CMS_pDetail
ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI

Ngày 20/11/2014, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hộiKhóa XIII đã thông qua Luật tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 (sau đây gọi là LuậtTổ chức Quốc hội năm 2014). Chủ tịch nước ký Lệnh số 15/2014/L-CTN ngày 04/12/2014công bố Luật tổ chức Quốc hội. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016.


I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI NĂM 2014

Sau hơn 12 năm thi hành, Luậttổ chức Quốc hội năm 2001 có hiệu lựctừ ngày 07/01/2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007) đã có đóng góp quan trọng,làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hộivà đại biểu Quốc hội. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, thực chất và hiệuquả hơn. Công tác lập pháp được đổi mới mạnh mẽ; số lượng luật, pháp lệnh đượcthông qua ngày càng nhiều; chất lượng văn bản được nâng lên, về cơ bản đã baoquát mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào sựnghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Công tác giám sát của Quốc hộiđược tăng cường với sự kết hợp nhiều hình thức giám sát và sự phối hợp chặt chẽcủa các cơ quan, tổ chức hữu quan; nội dung giám sát tập trung vào những vấn đềquan trọng, nổi lên trong thực tiễn cuộc sống, được dư luận xã hội và cử triquan tâm, đồng tình ủng hộ. Việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước,đặc biệt là về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước và các công trình, dự ánquan trọng quốc gia được Quốc hội xem xét thận trọng nên ngày càng đem lại hiệuquả thiết thực. Hoạt động đối ngoại của Quốc hội đạt kết quả tích cực cả về chiềurộng và chiều sâu, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, để tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêucầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,do Nhân dân, vì Nhân dân, cần sửa đổi Luật tổ chức Quốc hội hiện hành với các lý do cụ thể sau đây:

Thứ nhất, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6, ngày28/11/2013 (sau đây gọi là Hiến pháp) đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọngvề tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hộivà đại biểu Quốc hội, do đó, Luật tổ chức Quốc hội cần phải được sửa đổi, bổsung cho phù hợp với Hiến pháp. 

Thứ hai, từ năm 2002 đến nay, trong quátrình tổ chức và hoạt động, Quốc hội luôn có những đổi mới, cải tiến về phươngthức, chế độ làm việc theo hướng phát huy dân chủ, tăng tính chủ động, sáng tạo,phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan. Những đổi mới, cải tiến này đượcthực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn và phù hợp nhưng chưa được ghi nhận trong Luậtmà chỉ được thể hiện trong nghị quyết, nội quy, quy chế hoạt động hoặc trở thành các tiền lệ trong hoạt động của Quốc hội, các cơquan của Quốc hội.

Thứ ba, một số quy địnhcủa Luậttổ chức Quốc hội hiện hành về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn củaQuốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội,đại biểu Quốc hội còn chưa cụ thể, rõ ràng, tính khả thi còn thấp, như việctrình dự án luật, kiến nghị về luật của đại biểu Quốc hội, việc đưa ra để cửtri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng, việc bỏ phiếu tín nhiệm,việc tổ chức trưng cầu ý dân...

Thứ tư, một số thiếtchế trong Luật tổ chức Quốc hội hiệnhành chưa có quy định cụ thể về nhiệmvụ, quyền hạn như Ủy ban lâm thời hoặc nhiệm vụ, quyền hạn không tương xứng vớivị trí của thiết chế đó như Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội. Mô hình tổ chức bộ máy giúp việcchưa thật hợp lý, tính chuyên nghiệp trong hoạt động của bộ máy này chưa cao; chưa luật hóa địa vị pháp lý củacác cơ quan thuộc bộ máy giúp việc như Ban công tác đại biểu, Ban dân nguyện, Văn phòng Quốc hội; chưa có cơ chế khuyến khích,thu hút các chuyên gia giỏi, cán bộ có năng lực, kinh nghiệm về làm việc tạicác cơ quan giúp việc Quốc hội.

Thứ năm, tổ chức vàhoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội vẫn còn mộtsố hạn chế, bất cập. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội hiện nay chưa tương xứng vớisự gia tăng về khối lượng công việc trong khi yêu cầu về chất lượng ngày càng cao. Cơ chế làm việc cũng như các điều kiện bảo đảm cho đại biểu Quốc hội, bao gồmcả đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách chưa thật sự phù hợp và chưa được quy địnhtrong luật. 

Từ những lý do nêu trên cho thấy cần phải sửa đổi một cách cơ bản Luật tổchức Quốc hội hiện hành nhằmtạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức vànâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

II. QUAN ĐIỂMCHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

          Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đượcxây dựng dựa trên các quan điểm chỉđạo sau đây:

1. Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng, cụ thể hóa các quyđịnh của Hiến pháp về đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan củaQuốc hội và đại biểu Quốc hội; bảo đảm Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất củaNhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định những vấnđề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước;

2. Kế thừa và phát triển những quy định trong Luật tổ chức Quốc hộihiện hành và các văn bản pháp luậtkhác có liên quan đã được thực tiễn kiểm nghiệm là hợp lý, đúng đắn và hiệu quả;khắc phục những hạn chế, bất cập; đồng thời hệ thống hóa, pháp điển một bướccác quy định về tổ chức và hoạt động của Quốc hội;

3. Xác định đại biểu Quốc hội giữ vai trò trung tâm, Hội đồng dân tộc, các Ủyban của Quốc hội là các cơ quan chuyên môn làm việc thường xuyên của Quốc hội; Ủyban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội; các cơ quan khácthuộc Quốc hội và Văn phòng Quốc hội là bộ máy tham mưu, phục vụ của Quốc hội,các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội. Cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn củacác cơ quan của Quốc hội để tránh chồng chéo, trùng lặp, không hành chính hóahoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội.

4. Tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động nghịviện của một số nước trên thế giới phù hợp với điều kiện của Việt Nam; đồng thời,hoàn thiện cả về kỹ thuật lập pháp, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, chấtlượng và hiệu quả của đạo luật này.

III. BỐ CỤC CỦALUẬT

Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 gồm 7chương, 102 điều với các nội dung cụ thể như sau:

Chương I. Vị trí, chức năng, nhiệmvụ, quyền hạn của Quốc hội: gồm 20 điều (từ Điều 1 đến Điều 20), quy địnhvề vị trí, chức năng của Quốc hội; Nhiệm kỳ Quốc hội; Nguyên tắc và hiệu quả hoạtđộng của Quốc hội; Làm Hiến pháp và sửa đổi luật; Giám sát tối cao của Quốc hội;Quyết định các vấn đề quan trọng về kinh tế - xã hội; Bầu các chức danh trong bộmáy nhà nước; Phê chuẩn các chức danh trong bộ máy nhà nước; Việc từ chức củangười được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; Miễn nhiệm, bãi nhiệm, phê chuẩn đề nghịmiễn nhiệm, cách chức người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; Lấy phiếutín nhiệm; Bỏ phiếu tín nhiệm; Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan, thành lập,giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính; Bãi bỏ văn bản trái vớiHiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Quyết định đại xá; Quyết định vấn đềchiến tranh và hòa bình; Phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lựccủa điều ước quốc tế; Trưng cầu ý dân; Xem xét báo cáo tổng hợp ý kiến, kiếnnghị và việc giải quyết kiến nghị của cử tri cả nước.

Chương II. Đại biểu Quốc hội:gồm 23 điều (từ Điều 21 đến Điều 43) quy định các nội dung liên quan đến: Vịtrí, vai trò của đại biểu Quốc hội; Tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội; Số lượngđại biểu Quốc hội; Thời gian hoạt động của đại biểu Quốc hội; Nhiệm kỳ của đạibiểu Quốc hội; Trách nhiệm tham gia các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan củaQuốc hội; Trách nhiệm với cử tri; Trách nhiệm tiếp công dân, tiếp nhận và xử lýkhiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; Quyền trình dự án luật, pháp lệnh vàkiến nghị về luật, pháp lệnh; Quyền tham gia làm thành viên và tham gia hoạt độngcủa Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Quyền ứng cử, giới thiệu người ứng cửvào các chức danh do Quốc hội bầu; Quyền chất vấn; Quyền kiến nghị của đại biểuQuốc hội; Quyền yêu cầu khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật; Quyền yêu cầucung cấp thông tin; Quyền tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân; Quyền miễn trừ củađại biểu Quốc hội; Việc chuyển công tác, xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội;Việc tạm đình chỉ hoặc mất quyền đại biểu Quốc hội; Việc bãi nhiệm đại biểu Quốchội; Phụ cấp và các chế độ khác của đại biểu Quốc hội; Điều kiện bảo đảm cho đạibiểu Quốc hội; Đoàn đại biểu Quốc hội

Chương III. Ủy ban thường vụ Quốchội và Chủ tịch Quốc hội: gồm 22 điều (từ Điều 44 đến Điều 65) quy địnhvề:  Vị trí, chức năng và cơ cấu tổ chứccủa Ủy ban thường vụ Quốc hội; Trách nhiệm của các thành viên Ủy ban thường vụQuốc hội; Phối hợp công tác giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với các cơ quan, tổchức, đơn vị, cá nhân; Ủy ban thường vụ Quốc hội chuẩn bị, triệu tập và chủ trìkỳ họp Quốc hội; Xây dựng luật, pháp lệnh; Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;Giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Đình chỉ, bãi bỏ văn bản của cơ quannhà nước ở trung ương; Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạtđộng của Hội đồng dân tộc và Ủy ban của Quốc hội; Trách nhiệm của Ủy ban thườngvụ Quốc hội trong việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, phê chuẩn các chức danhtrong bộ máy nhà nước; Trách nhiệm của Ủy ban thường vụ Quốc hội đối với hoạt độngcủa đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội; Ủy ban thường vụ Quốc hội giámsát, hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; Thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chínhdưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Quyết định tình trạng chiến tranh,quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩncấp; Trách nhiệm của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc thực hiện quan hệ đốingoại của Quốc hội; Tổ chức trưng cầu ý dân; Phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội;Thời gian tiến hành phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội; Dự kiến chương trìnhvà quyết định triệu tập phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội; Tài liệu phục vụ phiênhọp Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Quốc hội; Nhiệmvụ, quyền hạn của các Phó Chủ tịch Quốc hội;

Chương IV. Hội đồng dân tộc vàcác Ủy ban Quốc hội: gồm 24 điều (từ Điều 66 đến Điều 89) quy định về:Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội; Cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc,Ủy ban của Quốc hội; Nguyên tắc làm việc, nhiệm kỳ và trách nhiệm báo cáo của Hộiđồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng dân tộc;Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban pháp luật; Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban tưpháp; Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban kinh tế; Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy bantài chính, ngân sách; Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban quốc phòng và an ninh; Nhiệmvụ, quyền hạn của Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng;Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban về các vấn đề xã hội; Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủyban khoa học, công nghệ và môi trường; Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban đối ngoại;Trách nhiệm tham gia thẩm tra và phối hợp giữa Hội đồng dân tộc, các Ủy ban củaQuốc hội; Trách nhiệm của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong việc bảovệ Hiến pháp; Yêu cầu báo cáo, cung cấp tài liệu, cử thành viên đến xem xét,xác minh; Giải trình tại phiên họp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; Phốihợp công tác với các cơ quan, tổ chức ở địa phương; Quan hệ đối ngoại và hợptác quốc tế; Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủyban của Quốc hội; Nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng dân tộc, Thườngtrực Ủy ban của Quốc hội; Phiên họp toàn thể của Hội đồng dân tộc, Ủy ban củaQuốc hội; Thành lập Ủy ban lâm thời; Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủyban lâm thời.

Chương V. Kỳ họp Quốc hội: gồm8 điều (từ Điều 90 đến Điều 97) quy định về: Kỳ họp Quốc hội; Chương trình kỳ họpQuốc hội; Triệu tập kỳ họp Quốc hội; Người được mời tham dự kỳ họp Quốc hội, dựthính tại phiên họp Quốc hội; Các hình thức làm việc tại kỳ họp Quốc hội; Tráchnhiệm chủ tọa các phiên họp Quốc hội; Biểu quyết tại phiên họp toàn thể; Tài liệuphục vụ kỳ họp Quốc hội.

Chương VI. Tổng thư ký Quốc hội,Văn phòng Quốc hội, các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và kinh phí hoạtđộng của Quốc hội: gồm 4 điều (từ Điều 98 đến Điều 101) quy định về: Tổngthư ký Quốc hội; Văn phòng Quốc hội; Các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội;Kinh phí hoạt động của Quốc hội.

Chương VII. Điều khoản thi hành: gồm Điều 102 quy định về hiệu thựcthi hành.

IV. NỘI DUNG CƠBẢN CỦA LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI NĂM 2014

1.Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội (Chương I)

Về cơ bản, vị trí, chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội (Điều 1) Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đãcụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về nội dung này (Điều 69 và Điều 70 củaHiến pháp) để đảm bảo thực hiện trên thực tế. Luật đã quy định các nhiệm vụ, quyềnhạn của Quốc hội thành 16 điều tương ứng với 3 chức năng lập pháp, giám sát,quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước của Quốc hội..

Về làm luật và sửa đổi luật, Điều 5 của Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đãquy định Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; thảo luận,xem xét, thông qua dự án luật tại một hoặc nhiều kỳ họp của Quốc hội căn cứ vàonội dung của dự án, còn trình tự, thủ tục làm luật, sửa đổi luật sẽ do Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật quy định.

Về giám sát tối cao của Quốc hội,Luật tổ chức Quốc hội năm 2014quy định về đối tượng, phạm vi giám sát còn những vấn đề cụ thể về cách thức,trình tự, thủ tục, hệ quả giám sát thì do Luật hoạt động giám sát quy định (Điều 6).

Về quyết định các chính sáchquan trọng về kinh tế - xã hội, Luậttổ chức Quốc hội năm 2014 đã quy định rõ thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyếtđịnh chính sách về kinh tế, ngân sách, chính sách về tôn giáo, đối ngoại, quyếtđịnh chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốcgia (Điều 7).

Về lấy phiếu tín nhiệm, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy địnhđối tượng lấy phiếu tín nhiệm, hệ quả của việc lấy phiếu, còn thời điểm, thời hạn,trình tự lấy phiếu tín nhiệm do Quốc hội quy định cụ thể trong văn bản khác (Điều 12).

Về trưng cầu ý dân, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã cụ thểhóa khoản 15 Điều 70 của Hiến pháp về các trường hợp Quốc hội quyết định việctrưng cầu dân ý. Theo đó, Luật cũng đã xác định rõ các chủ thể có quyền đề nghịQuốc hội trưng cầu dân ý là Ủy ban thường vụQuốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ hoặc một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội;đồng thời khẳng định kết quả trưng cầu dân ý có giá trị quyết định đối với vấnđề được đưa ra trưng cầu dân ý.Cách thức, trình tự, thủ tục trưng cầu ý dân sẽdo Luật trưng cầu ý dân quy định (Điều19).

Về xem xét báo cáo tổng hợp ýkiến, kiến nghị của cử tri cả nước, Điều20 của Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định theo hướng Quốc hội xemxét báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước do Ủy ban Trung ươngMặt trận tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban thường vụ Quốc hội trình.

2. Về đại biểuQuốc hội (Chương II)

Về vị trí, vai trò của đại biểuQuốc hội, Luật tổ chức Quốc hộinăm 2014 quy định cụ thể hơn về tính chất hoạt động của đại biểu Quốc hộichuyên trách và không chuyên trách; thể hiện rõ trách nhiệm của đại biểu Quốc hộitrong việc tham gia các hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, tráchnhiệm với cử tri và trách nhiệm trong việc tiếp công dân, tiếp nhận và xử lýcác kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; thể hiện rõ các quyền của đại biểuQuốc hội đã được Hiến pháp ghi nhận như quyền trình dự án luật, pháp lệnh, kiếnnghị về luật, pháp lệnh, quyền tham gia làm thành viên và tham gia các hoạt độngcủa Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; quy định cụ thể chế độ lương, thưởng,phụ cấp cho các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và các điều kiện đảm bảotính độc lập cho đại biểu Quốc hội.

Về tiêu chuẩn của đại biểu Quốchội, do Luật tổ chức Quốc hội cần điểu chỉnh các vấn đề liên quan đến cáccơ cấu hợp thành tổ chức của Quốc hội, trong đó đại biểu Quốc hội là thành tốgiữ vị trí trung tâm, nên việc quy định về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hộitrong Luật là phù hợp. Đây không chỉ là tiêu chuẩn để cử tri xem xét, đánh giákhi bầu một người làm đại biểu Quốc hội mà các tiêu chuẩn này cần được tiếp tụcduy trì, bảo đảm trong suốt nhiệm kỳ của đại biểu của Quốc hội, là cơ sở để Quốchội hoặc cử tri xem xét, nhận xét đối với từng đại biểu Quốc hội. Vì vậy, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã bổ sungvà quy định rõ các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội tại Điều 22.

Về số lượng đại biểu Quốc hội, Điều 23 của Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định sốlượng đại biểu Quốc hội không quá 500 người vừa thể hiện số ghế tối đa trong Quốchội, vừa bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Nộidung, cách thức xác định số lượng cụ thể đại biểu Quốc hội được bầu sẽ được quyđịnh trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Về tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, Khoản 2 Điều 23của Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quyđịnh số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 35% tổng số đạibiểu Quốc hội (Luật trước đây quy định là 25%) để phù hợp với yêu cầu thực tế củaQuốc hội nước ta hiện nay, đồng thời đây là điều kiện để tiến tới chuyên nghiệphóa hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội.

Về thời gian làm công tác đạibiểu của các đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách, Khoản 2 Điều 24 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định đạibiểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất 1/3 thời gian làmcông tác đại biểu để bảo đảm các đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm phải dành đủ thờigian tham gia các hoạt động của Quốc hội.

Về quyền tham gia làm thành viên và tham gia hoạt động của Hội đồngdân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Điều 30 của Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quyđịnh đại biểu Quốc hội có quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộchoặc Ủy ban của Quốc hội. Căn cứ vào năng lực chuyên môn, kinh nghiệm công tác,đại biểu Quốc hội đăng ký tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc một Ủy ban của Quốc hội. Trêncơ sở đăng ký của đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủyban của Quốc hội xem xét lập danh sách thành viên Hội đồng dân tộc, Ủy bantrình Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Đồng thời, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 cũng quy định thẩm quyền củaỦy ban thường vụ Quốc hội trong phê chuẩn việc cho thôi làm thành viên của Hộiđồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội (Điều 53).

Quyền tham gia làm thành viên Hội đồng, Ủyban phải luôn gắn bó chặt chẽ với các trách nhiệm cụ thể. Điều 26 của Luật xác định rõ trách nhiệm của thành viên Hộiđồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội là phải tham dự các phiên họp, thamgia thảo luận, biểu quyết các vấn đề và tham gia các hoạt động khác thuộc nhiệmvụ, quyền hạn của Hội đồng, Ủy ban mà mình là thành viên.

Đối với những đại biểu Quốc hội không phải là thành viên của Hội đồng dân tộc,Ủy ban của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã mở ra cơ chế để đại biểu vẫn có thể tham gia vào một sốhoạt động của các cơ quan của Quốc hội như có quyền đăng ký tham dự các phiên họp do Hội đồngdân tộc, các Ủy ban tổ chức để thảo luận về những nội dung mà đại biểu quan tâm(Khoản 2 Điều 30).

Về  phụ cấp và các điều kiện bảo đảm cho đại biểuQuốc hội,Đạibiểu Quốc hội được cấp hoạt động phí hàng tháng, kinh phí để thực hiện chế độthuê khoán chuyên gia, thư ký giúp việc và các hoạt động khác để phục vụ chohoạt động của đại biểu theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đại biểuQuốc hội hoạt động chuyên trách được bố trí nơi làm việc, trang bị các phươngtiện vật chất, kỹ thuật cần thiết phục vụ cho hoạt động của đại biểu Quốchội,... (Điều 41, Điều 42 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014).

Về Đoàn đại biểu Quốc hội (Điều43), Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã thể hiện rõ hơn vị trí của Đoàn đại biểuQuốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh hoặc thànhphố trực thuộc trung ương; trong nhiệm kỳ, nếu đại biểu Quốc hội chuyển côngtác đến tỉnh, thành phố khác trực thuộc trung ương thì được chuyển sinh hoạt đếnĐoàn đại biểu Quốc hội nơi mình nhận công tác. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoànđại biểu Quốc hội, Luật đã quy định rõ nhiệm vụ của Đoàn đại biểu Quốc hộitrong 4 lĩnh vực chính là tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp xúc cử tri, tiếpcông dân, thực hiện nhiệm vụ giám sát và thảo luận, góp ý kiến về các dự án luật,dự án pháp lệnh và các dự án khác. 

Về Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Khoản 4 Điều 43 Luật tổchức Quốc hội năm 2014 quy định“Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội là cơquan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội trongĐoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương” là nhằm tạo cơ sở pháp lý để củng cốvà hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, tăngcường hơn nữa cơ chế bảo đảm, hỗ trợ trực tiếp cho hoạt động của đại biểu Quốchội tại địa phương, nhất là trong thời gian giữa 2 kỳ họp Quốc hội. Tổ chức,nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội sẽ do Ủy banthường vụ Quốc hội quy định cụ thể trong các văn bản khác.

3. Về Ủy ban thường vụ Quốc hội  và Chủ tịch Quốc hội (Chương III)

Về vị trí, chức năng của Ủy ban thường vụQuốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã cụ thể hóa 13 khoản tại Điều 74 của Hiếnpháp thành một số điều về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ủy ban thường vụ. Luậtđã bổ sung một điều mới (Điều 53) quy định về thẩmquyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm,bãi nhiệm, phê chuẩn các chức danh trong bộ máy nhà nước cho phù hợp với Hiếnpháp.

Về cơ cấu thành phần của Ủy ban thường vụ Quốc hội,Khoản 2 Điều 44 Luật tổchức Quốc hội năm 2014 đã quy định cụ thể cơ cấu, thành phần của Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm Chủ tịch Quốchội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hộiđể tạo cơ sở pháp lý cho từngkhóa Quốc hội bầu, quyết định nhân sự cụ thể; còn việc bố trí, phân công nhân sựcủa Ủy ban thường vụ Quốc hội có đồng thời kiêm nhiệm Hội đồng dân tộc, các Ủyban của Quốc hội hay không là do Quốc hội từng khóa quyết định căn cứ vào điềukiện thực tế của khóa Quốc hội đó.

Về thẩm quyền giám sát của Ủyban thường vụ Quốc hội,Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định các hoạt động giám sát, đối tượng giám sát của Ủy ban thường vụ Quốchội. Theo đó, Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thực hiện chươngtrình giám sát của Quốc hội, điều chỉnh chương trình giám sát của Quốc hộitrong thời gian giữa hai kỳ họp và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất; đồngthời thực hiện giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Việnkiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thànhlập, giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân, giám sát việc thi hành Hiếnpháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụQuốc hội (Điều 50). 

Về chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và Ủy ban củaQuốc hội,Luật tổ chức Quốc hộinăm 2014 đã quy định khá cụ thểnhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực phụ trách của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốchội, song trên thực tế rất khó phân định rạch rõi trách nhiệm, lĩnh vực cụ thểcủa từng cơ quan và vẫn cần có sự chỉ đạo, điều hòa, phối hợp chung để bảo đảmhoạt động của các cơ quan này được nhịp nhàng, có sự thông suốt. Do đó, với tưcách là cơ quan thường trực của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội cần thực hiệnvai trò chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt độngcủa Hội đồng dân tộc, các Ủy ban để nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của Quốc hội.Vì vậy, Luật tiếp tục quy định nhiệm vụ này của Uỷ ban thường vụ Quốc hội tạiĐiều 52.

Về thành lập, giải thể, nhập,chia, điều chỉnh địa giới hành chính, theo quy định tại Điều 56 Luật tổ chức Quốc hội năm 2014, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết địnhthành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương theo đề nghị của Chính phủ. Đề án về việc thànhlập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương phải được Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trướckhi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định. Đây là một trong nhữngđiểm mới của Luật so với các quy định trước đây.

Về tổ chức trưng cầu ý dân, Điều 59 Luật tổ chức Quốc hội năm2014 đã làm rõ thẩm quyền củaỦy ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức trưng cầu ý dân theo hướng Ủy banthường vụ Quốc hội quy định về hình thức phiếu trưng cầu, thể thức bỏ phiếu vàkiểm phiếu; quyết định thời gian cụ thể trưng cầu ý dân, nội dung ghi trên phiếutrưng cầu ý dân căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội về việc trưng cầu ý dân; kiểmtra, giám sát việc trưng cầu ý dân; chịu trách nhiệm tổng hợp, công bố kết quảtrưng cầu ý dân và với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

4. Về Hội đồng dân tộc,Ủy ban của Quốc hội (Chương IV)

Về cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc,Ủy ban của Quốc hội,trong cơ cấu tổ chức của Hội đồng dân tộc, Ủy ban hiện nay có cả chức danh Ủyviên thường trực và Ủy viên chuyên trách. Để phân biệt rõ 2 chức danh này, Luậtđã quy định Hội đồng dân tộcgồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyêntrách và các Ủy viên. Ủy ban của Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm,các Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên (Điều 67). 

  Việc phân định nhiệm vụ, quyềnhạn giữa Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định về nhiệm vụ, quyền hạncủa Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội theo hướng sau đây:

(1) Bổ sung quyền trình dự án luật, dự án pháp lệnh về lĩnh vực mà Hội đồng dântộc, Ủy ban phụ trách;

(2) Bổ sung trách nhiệm của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong việc bảovệ Hiến pháp nhằm cụ thể hóa Điều 119 của Hiến pháp. Theo đó, trong quá trình thực hiện, nhiệm vụ, Hội đồngdân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phát hiện văn bản có dấu hiệu vi phạmHiến pháp và kiến nghị cơ quan đã ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ vănbản đó; trườnghợp cơ quan đã ban hành văn bản không thực hiện kiến nghịthì Hội đồng, Ủy ban có quyền kiến nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốchội xem xét, xử lý theo thẩm quyền. Ủy ban pháp luật có trách nhiệm thẩm tra kiếnnghị của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đề nghị của Chủ tịch nước,Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy bantrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc củađại biểu Quốc hội về văn bản có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp để trình Quốc hội, Ủyban thường vụ Quốc hội xem xét, xử lý theo thẩm quyền (Điều80);

(3) Bổ sung quyền yêu cầu báo cáo, cung cấp tài liệu, cử thành viên xem xét,xác minh về vấn đề mà Hội đồng dân tộc, Ủy ban quan tâm và trách nhiệm của cơquan, tổ chức, cá nhân hữu quan đối với những yêu cầu của Hội đồng, Ủy ban chophù hợp với Hiến pháp (Điều 81);

(4) Bổ sung, làm rõ hoạt động báo cáo, giải trình tại phiên họp Hội đồng dân tộc,Ủy ban của Quốc hội về những vấn đề cần thiết thuộc lĩnh vực Hội đồng, Ủy banphụ trách (Điều 82);

(5) Bổ sung thẩm quyền của Hội đồng dân tộc trong việc thẩm tra việc bảo đảmchính sách dân tộc trong các dự án luật, pháp lệnh trình Quốc hội, Ủy ban thườngvụ Quốc hội (Điều 69); 

(6) Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban pháp luật trong việc giúp Ủy ban thường vụQuốc hội dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; bảo vệ Hiến pháp, bảo đảmtính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật (Điều 70);

(7) Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban tư pháp trong việc thẩm tra dự án luật, pháplệnh về phòng, chống thamnhũng (Điều 71); 

(8) Tiếp tục xác định nhiệm vụ thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnhvực tiền tệ, ngân hàng của Ủy ban kinh tế; đồng thời bổ sung thẩm quyền cho Ủyban này trong việc thẩm tra dự án luật, pháp lệnh về lĩnh vực đất đai và chínhsách cơ bản về tiền tệ quốc gia (Điều 72);

(9) Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban tài chính, ngân sách trong việc thẩm tra dựán luật, pháp lệnh về kiểm toán nhà nước (Điều 73);

(10)   Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên vànhi đồng trong việc thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực  tôn giáo, tín ngưỡng. Theo đó, Ủy ban này sẽphụ trách lĩnh vực văn hoá,giáo dục, thông tin, truyền thông, tín ngưỡng,tôn giáo, du lịch, thể thao,thanh niên, thiếu niên, nhi đồng (Điều 75);

(11)    Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban các vấn đề xã hội trong việc thẩm tra dự ánluật, dự án pháp lệnh thuộc lĩnh vực an sinh xã hội, bình đẳng giới, thi đua,khen thưởng (Điều 76).

Về Ủy ban lâm thời của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã quy định cụ thể về Ủy banlâm thời tại Điều 88 và Điều 89 trong dự thảo Luật, tránh gây nhầm lẫn với các Ủyban thường xuyên khác của Quốc hội. Luật quy định rõ các trường hợp Quốc hộithành lập Ủy ban lâm thời, khẳng định thành viên của Ủy ban lâm thời phải là đạibiểu Quốc hội; thành phần, sốlượng thành viên, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ủy ban lâm thời do Quốc hộiquyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Ủy ban lâm thời chấm dứthoạt động sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ. 

5. Về Tổng thư ký Quốc hội, Văn phòng Quốc hội,các cơ quan thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội và kinh phí hoạt động của Quốc hội(Chương VI)

Về Tổng thư ký Quốc hội và Văn phòng Quốc hội, trên cơsở đánh giá hoạt động của Đoàn thư ký kỳ họp cũng như tham khảo kinh nghiệmquốc tế trong tổ chức phục vụ hoạt động của Quốc hội, Luật đã được chỉnh lýtheo hướng quy định Tổng thư ký Quốc hội là người đứng đầu Ban thư ký, đồngthời là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Tổng thư ký Quốc hội sẽ do Quốc hội bầu,miễn nhiệm, cách chức. Đồng thời, để xác định rõ hơn vị trí pháp lý của Vănphòng Quốc hội, dự thảo Luật đã quy định Văn phòng Quốc hội là cơ quan hành chính, phục vụ Quốc hội, Ủyban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và đại biểuQuốc hội (Điều 98, Điều 99).

Về các cơ quan thuộc Ủy banthường vụ Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 dành một điều khoản (Điều 100) để quy định chungvề các cơ quan thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Các cơ quan này có tráchnhiệm tham mưu, giúp việc cho Ủy ban thường vụ Quốc hội về các mảng công việc cụthể.

V. NHỮNGĐIỂM MỚI CỦA LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI NĂM 2014 SO VỚI LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI HIỆNHÀNH

1. Luật tổ chức Quốc hội năm2014 cụ thể hóa quy định của Hiến pháp 2013 về chứcnăng, nhiệm vụ của Quốc hội 

Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 được xây dựng và trình Quốc hội trongbối cảnh Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng về tổ chức,chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểuQuốc hội. Bởi vậy, các quy định của Luật tổ chức Quốc hội được sửa đổi, bổ sungtrên nguyên tắc cơ sở kế thừa và cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp.

Về chức năng của Quốc hội,trên cơ sở quy định tại Điều 69 của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đãquy định chức năng của Quốc hội theo hướng ngắn gọn hơn, cụ thể là: Quốchội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọngcủa đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

So vớiquy định của luật hiện hành, Quốc hội không tổ chức thực hiện giám sát tối cao“đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” mà chỉ tiến hành “giám sát tối cao đốivới hoạt động của Nhà nước”. Việc sửa đổi quy định tại Điều 1 của Luật hiệnhành nhằm khẳng định đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội chỉ bao gồm “tầngcao nhất của bộ máy Nhà nước” (Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội,Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, những ngườiđứng đầu các cơ quan này và các thành viên của Chính phủ).

Vềnhiệm kỳ của Quốc hội, trên cơ sở cụ thể hóa cácquy định của Hiến pháp, Luật tổ chứcQuốc hội năm 2014 đã bổ sung thêm một số nội dung về nhiệm kỳ của Quốc hội.Bên cạnh việc tiếp tục quy định thời gian cho mỗi nhiệm kỳ Quốc hội là năm năm,Luật cũng xác định rõ khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Quốc hội sẽ quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệmkỳ. Nếu như Luật năm 2001 không quy định cụ thể về thời gian kéo dài hay rút ngắnnhiệm kỳ của Quốc hội, thì Luật năm 2014, trên cơ sở cụ thể hóa khoản 3, Điều71 của Hiến pháp 2013 đã ấn định việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không đượcquá 12 tháng, trừ trường hợp có chiến tranh.

Vềviệc lấy phiếu tín nhiệm, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã bổ sung quyđịnh mới về việc lấy phiếu tín nhiệm. Quy định này nhằm ghi nhận thẩm quyền củaQuốc hội trong việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầuhoặc phê chuẩn. Mặc dù Hiến pháp 2013 không đề cập đến việc lấy phiếu tín nhiệm,song dựa trên hiệu quả việc lấy phiếu tín nhiệm, sự quan tâm của cử tri cả nướcvà dư luận xã hội trong thời gian qua, Luật sửa đổi đã thiết kế quy định về lấyphiếu tín nhiệm với tính chất là một phương thức tăng cường hoạt động giám sátcủa Quốc hội đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Đồng thời,đây cũng được xem là một bước chuẩn bị cho việc thực hiện quyền bỏ phiếu tínnhiệm đã được quy định trong Hiến pháp. 

          Bên cạnh quy định về lấy phiếutín nhiệm, Luật tổchức Quốc hội năm 2014 đã bổ sung quy định về việc bỏ phiếu tín nhiệmtrên cơ sở thể chế hóa quy định của Hiến pháp và Luật hóa một số nội dung trongNghị quyết số 35/2012/QH13 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đốivới người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn và có kếthừa quy định tại Điều 88 của Luật tổ chức Quốc hội hiện hành. Theo đó, Luật tiếptục quy định Quốc hội sẽ bỏ phiếu tínnhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầuhoặc phê chuẩntrong các trườnghợp doỦy ban thường vụ Quốc hội đề nghị hoặc có ý kiến bằng văn bản của ít nhất hai mươiphần trăm tổng số đại biểu Quốc hộihoặc có kiếnnghị của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội. Bên cạnh đó, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã bổ sungthêm trường hợp Quốc hội sẽ bỏ phiếu tín nhiệm khi có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hộitrở lên đánh giá tín nhiệm thấp đối với người được lấyphiếu tín nhiệm. Đồng thời, Luật cũng đã quy định rõ hậu quả pháp lý đối với người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm khi có quá nửa tổngsố đại biểu Quốc hội bỏ phiếu không tín nhiệm.

2.Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 bổ sung thêm nhiều quy định đểbảo đảm đại biểu Quốc hội giữ vai trò trung tâm trong tổ chức và hoạt động củaQuốc hội

Về bố cục, để thể hiệnvai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội,tại Luật tổ chức Quốc hội năm 2014,các quy định về đại biểu Quốc hội được thiết kế tại chương II, ngay sau chươngnhững quy định chung về Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội.

Về nội dung, bên cạnh việc kế thừa các quy định của luậthiện hành, Luật tổ chức Quốc hội năm2014 đã bổ sung thêm một số nội dung sau đây:

Về trách nhiệm với cử tri, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định đại biểu Quốc hội có thể tiếpxúc cử tri nơi cư trú, nơi làm việc; tiếp xúc cử tri theo chuyên đề, lĩnh vực,đối tượng, địa bàn mà đại biểu quan tâm nhằm mục đích tạo thêm cơ hội để đại biểuQuốc hội lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của cử tri, đồng thời thu hút được sựquan tâm của cử tri đối với các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội.

Về quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm2014 bổ sung quyền chấtvấn của đại biểu đối với Tổng Kiểm toán nhà nước để phù hợp với Hiến pháp (sửađổi); đồng thời sửa đổi quy định về việc trả lời chất vấn theo hướng Ủy ban thườngvụ Quốc hội kiến nghị Quốc hội xem xét, quyết định cho phép người bị chất vấntrả lời chất vấn tại phiên họp toàn thể của Quốc hội, phiên họp của Ủy ban thườngvụ Quốc hội hoặc trả lời trực tiếp bằng văn bản đến đại biểu Quốc hội đã chất vấn.Trường hợp đại biểu Quốc hội chưa đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì cóquyền tiếp tục chất vấn lại tại phiên họp của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốchội hoặc gửi chất vấn đến người bị chất vấn.

Về quyền kiến nghị của đại biểu Quốc hội, so với Luật năm 2001, Luật tổchức Quốc hội năm 2014 quyđịnh riêng về quyền của đại biểu Quốc hội trong việckiến nghị Quốc hội về các vấn đề: làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp; trưng cầu ýdân; thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội; bỏ phiếu tín nhiệm đối với ngườigiữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; tổ chức phiên họp bất thường; phiênhọp kín của Quốc hội và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội thấycần thiết. Ngoài ra, đại biểu Quốc hội cũng cóquyền  kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp cần thiếtđể thực hiện Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyềncon người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 

Về quyền tham dự kỳ họp của Hội đồng nhân dân, Luật tổ chức Quốc hội năm2014 bổ sung thêm quyềncủa đại biểu Quốc hội tham dự kỳ họp Hội đồng nhân dân nơi đại biểu cư trú hoặcnơi làm việc khi Hội đồng nhân dân bàn những vấn đề mà đại biểu quan tâm. Quy địnhnày nhằm tạo điều kiện cho đại biểu Quốc hội sâu sát hơn với tình hình thực tiễncủa địa phương, thu thập thêm các thông tin cần thiết cho hoạt động của mình.

3. Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 bổ sung các quy định nhằm xác định cụ thể vị trí pháplý của đại biểu Quốc hội chuyên trách

 So với luật hiện hành, số lượng đại biểu Quốchội hoạt động chuyên trách đã được nâng lên là ít nhất ba mươi lăm phần trăm tổngsố đại biểu Quốc hội (Điều 45 của Luật tổchức Quốc hội năm 2001 sửa đỏi năm 2007 quy định số lượng đại biểu Quốchội hoạt động chuyên trách có ít nhất là hai mươi lăm phần trăm tổng số đại biểuQuốc hội) để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc kiện toàn bộ máy của Hộiđồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các Đoàn đại biểu Quốc hội.

Đồng thời, Luật tổ chức Quốchội năm 2014 có những quy định cụ thể về đại biểu Quốc hội hoạt độngchuyên trách để phân biệt rõ hơn địa vị pháp lý, vai trò và trách nhiệm với đạibiểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách. Luật quy định “Đại biểu Quốc hộihoạt động chuyên trách dành toàn bộ thời gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của đại biểu tại cơ quan của Quốc hội hoặc tại Đoàn đại biểu Quốc hộiở địa phương”. Với quy định này, Luật sửa đổi đã xác định điểm khác biệt lớnnhất về chế độ pháp lý của đại biểu hoạt động chuyên trách là những người dànhtoàn bộ thời gian của mình cho hoạt động của Quốc hội và không kiêm nhiệm côngtác điều hành, quản lý nhà nước trong bộ máy của các cơ quan khác ở trung ươngcũng như địa phương. Đối với các đại biểu hoạt động không chuyên trách, dự thảoLuật cũng quy định trách nhiệm dành tối thiểu một phần ba thời gian làm việctrong năm để thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội.

Bên cạnh việc xác định rõ chế độpháp lý, Luật tổ chức Quốc hội năm2014  cũng quy định đại biểu Quốchội hoạt động chuyên trách có trách nhiệm tham gia hội nghị đại biểu Quốc hộichuyên trách và các hội nghị khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội triệu tập. Nhữnghội nghị này là hoạt động quan trọng để các đại biểu chuyên trách nghiên cứu,thảo luận sâu sắc hơn về các nội dung trước khi Quốc hội cho ý kiến, góp phầnnâng cao hơn chất lượng hoạt động của Quốc hội.

4. Về tổ chức của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp và kế thừa quy địnhcủa Luật tổ chức Quốchội năm 2001 sửa đổi năm 2007 về tổ chức của Hội đồng dân tộc, Ủy ban củaQuốc hội, Luật tổchức Quốc hội năm 2014 đã bổ sung nhữngquy định mới về việc bầu, phê chuẩn thành viên Hội đồng vàcác Ủy ban; các quy định về Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban;và quy định về việc thành lập các tiểu ban của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban củaQuốc hội.

Về việc bầu, phê chuẩn thành viên Hội đồng, Ủyban: Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định Quốc hội chỉ bầu Chủ tịch Hội đồngdân tộc và Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội. Các chức danh Phó Chủ tịch và Ủyviên Hội đồng dân tộc, Phó Chủ nhiệm và Ủy viên Ủy ban sẽ do Ủy ban thường vụQuốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy bancủa Quốc hội. Các quy định này nhằm bảo đảm linh hoạt choquy trình phê chuẩncác thành viên Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, cũngnhư sự linh hoạt trong công tác điều động, bốtrí, luân chuyển cán bộ; bảo đảm quyền được tham gia Hội đồng dân tộc, Ủy ban củaQuốc hội của các đại biểu Quốc hội.

Về quy định đối với Thường trực Hội đồngdân tộc, Thường trực Ủy ban, trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành,Luật tổ chức Quốc hộinăm 2014 xác định thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trựcỦy ban là bộ phận giúp Hội đồng, Ủy ban giải quyết các công việcthường xuyên của Hội đồng, Ủy ban trong thời gian Hội đồng, Ủy ban không họp.Việc xây dựng những quy định cụ thể dành cho thường trực Hội đồng dân tộc, thườngtrực Ủy ban nhằm đảm bảo sự phù hợp với tình hình thực tiễn. Hiện nay, đa sốcác thành viên của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban hoạt động theo chế độ kiêmnhiệm, công tác ở nhiều cơ quan và địa phương khác nhau trong cả nước, trongkhi đó, khối lượng công việc mà Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban phải giải quyếtlại rất lớn và đa dạng, vì vậy, cần phải có bộ phận chuyên trách giúp Hội đồngdân tộc, Ủy ban giải quyết những công việc mang tính chất tác nghiệp thườngxuyên của các cơ quan này.  

Về việc thành lập các tiểu ban của Hội đồng và cácỦy ban, trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 42 của Luật tổ chức Quốc hội năm2001 và quy định tại Điều 11 của Quychế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đãxây dựng quy định mới về về việc thành lập các tiểu ban đểnghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng, Ủy ban.

5. Về chức danh Tổng thư ký

Trên cơsở nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm về tổ chức và hoạt động củanghị viện các nước trên thế giới, với mục tiêu nâng cao chất lượng của đội ngũtham mưu, giúp việc của Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã xây dựng quy định mới về chức danh Tổngthư ký. Theo đó, Tổng thư ký Quốc hội do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm đểtham mưu, phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, đại biểuQuốc hội. Tổng thư ký là đại biểu Quốc hội đồng thời giữ vai trò là Chủ nhiệmVăn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hộivề hoạt động của Văn phòng Quốc hội.

Tổng thưký thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hộivề dự kiến chương trình làm việc của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; vềquy trình, thủ tục thực hiện hoạt động của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; phốihợp với Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữuquan xây dựng dự thảo nghị quyết về các nội dung do Quốc hội, Ủy ban thường vụQuốc hội giao; là người phát ngôn của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội; tổchức công tác cung cấp thông tin, báo chí, xuất bản, thư viện, bảo tàng, ứng dụngcông nghệ thông tin phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội vàđại biểu Quốc hội; tổ chức các nghiệp vụ thư ký tại phiên họp, kỳ họp; tập hợp,tổng hợp các ý kiến của đại biểu Quốc hội; ký biên bản phiên họp, biên bản kỳ họp;thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thườngvụ Quốc hội giao. Giúp việc cho Tổng thư ký Quốc hội có Ban thư ký. Cơ cấu tổchức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Ban thư ký sẽ do Ủy ban thường vụ Quốc hộiquy định.

VI. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT

Luật tổ chức Quốc hội 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01năm 2016. Luật tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung mộtsố điều theo Luật số 83/2007/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Tổ chức Quốc hội2014 có hiệu lực.

          Sau khi ban hành Luật tổ chức Quốc hộinăm 2014, để cụ thể hóa các quy định của Luật về hoạt động của Quốc hội thì Quốchội cần tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ các văn bản liênquan sau đây:

- Nội quy kỳ họp Quốc hội: quy định việc chuẩn bị kỳ họp Quốc hội;phiên họp, cuộc họp tại Quốc hội; trình tự, thủ tục Quốc hội quyết định cơ cấutổ chức và nhân sự, xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết, chất vấnvà trả lời chất vấn, xem xét, thảo luận các báo cáo.

- Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội:quyđịnh về hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, việc bãi nhiệmđại biểu Quốc hội, việc đại biểu Quốc hội xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu, cácđiều kiện bảo đảm hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội….

- Quy chế hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội:quy định về cơ cấutổ chức, nội dung hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tổ chức và tiến hànhphiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, quan hệ công tác của Ủy ban thường vụ Quốchội, bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội:quy định về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạtđộng của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, hoạt động thẩm tra của Hộiđồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộcvà các Ủy ban của Quốc hội, các hoạt động khác của Hội đồng dân tộc và các Ủyban của Quốc hội; trách nhiệm và mối quan hệ công tác của Hội đồng dân tộc vàcác Ủy ban của Quốc hội; bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động của Hội đồngdân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. 

- Nghị quyết số 27/2012/QH13 của Quốc hội quy định về một số cải tiến,đổi mới trong hoạt động lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng củađất nước, tổ chức kỳ họp Quốc hội, tổ chức phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốchội, hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội và công tác bảo đảm đểnâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

Ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng ban hành một số Nghị quyết quy địnhvề chế độ, điều kiện làm việc của đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội hoạt độngchuyên trách; việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội trong việctiếp xúc cử tri, tiếp công dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của côngdân; về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội,Ban thư ký của Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Ban công tác đại biểu,Ban dân nguyện, Viện nghiên cứu lập pháp…

Để cụ thể hóa các quy định về tổchức và hoạt động của Quốc hội trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2014, cần phảitiến hành sửa đổi, bổ sung một cách tổng thể, toàn diện các văn bản pháp luậtnêu trên. Chính vì vậy, tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội thứ 34 vừa qua(tháng 1/2015), Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan củaQuốc hội trình dự thảoĐề án tổng kết, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, banhành mới các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động của Quốc hội,các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, với 3nhóm nhiệm vụ chính như sau:

Thứ nhất, tổng kết việc thihành các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động của Quốc hội, các cơ quan củaQuốc hội, đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hộiđể thấy được những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và khó khăn, vướngmắc trong quá trình thực hiện các nội quy, quy chế để kiến nghị sửa đổi, bổsung các nội dung cần thiết. 

Thứhai, tiến hành rà soát lại toàn bộ các quyđịnh trong nội quy, quy chế, nghị quyết có liên quan để thấy được những nộidung nào đã được luật hóa trong Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 hoặc sẽ được tiếptục luật hóa trong Luật hoạt động giám sát (sửa đổi), Luật ban hành văn bảnpháp luật (sửa đổi) và các luật khác dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua trongnăm 2015; những nội dung nào không còn phù hợp với Hiến pháp và các luật hiệnhành; những nội dung nào cần sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới để phùhợp với thực tế hoạt động hiện nay của Quốc hội.

Thứba, kiến nghị trình Ủy ban thường vụQuốc hội về danh mục những văn bản cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc bãi bỏ và định hướng sửa đổi, bổ sung các văn bảnđó để báo cáo với Quốc hội bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh,nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội trong năm 2015 nhằm bảo đảmviệc thi hành Luật tổ chức Quốc hội sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm2016.

Người đọc
238
Nguồn
Ban Giám Hiệu
Chia sẻ
Tìm kiếm
Tin mới
Nhiều người đọc
Thống kê
Số người truy cập: 0
 

Bản quyền thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương 

Trưởng Ban biên tập: Trần Hiếu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT 
Ðịa chỉ: Tầng 10, Tháp A, Trung tâm Hành chính Tỉnh, P.Hoà Phú, TP Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương 
Tel: (0650) 3.822.375 - Fax: (0650) 3.838.771 
E-mail: portal@sgdbinhduong.edu.vn
Website: http://sgdbinhduong.edu.vn - http://sgd.binhduong.gov.vn