Từ vựng tiếng Anh về màu sắc
Thân Phận Người Phụ Nữ Trong Xã Hội Phong Kiến

Bài viết của em Phạm Thanh Phong - Cựu học sinh Phạm Thanh Phong (khóa 2014-2017) đã  đăng trong tạp chí Tài Hoa Trẻ, số 693 năm 2016.



Trong xã hội phong kiến xưa cũ, vai trò của người phụ nữ luôn bị xem nhẹ. Họ không hề có địa vị trong xã hội, bị xem thường. “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”- một câu truyền miệng của nhân gian, nhưng cũng là định kiến thời bấy giờ về người phụ nữ. Bất công là vậy, nhưng hiếm ai dám đứng lên đòi lại công bằng, và Hồ Xuân Hương là một trong số ít dám nói lên thực trạng ấy. Văn chương của bà mang phong cách trào phúng, mỉa mai đùa cợt, nhưng cũng không ít bài đậm chất trữ tình, khóc thương cho số phận chính bản thân. Và tiêu biểu nhất trong những bài thơ ấy chính là bài “Tự tình”- tác phẩm chứa đầy nỗi lòng của người nữ sĩ, nơi mà bà đã trút trọn tâm tư, tình cảm và nỗi cô đơn của mình.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

  Trơ cái hồng nhan với nước non.”




Bắt đầu bài thơ là màu đen của đêm khuya và tiếng vang văng vẳng của trống canh. Dù có động nhưng lại là tĩnh, khi mà chỉ có tiếng trống canh mõ (hoặc tiếng trống từ canh này sang canh khác) cũng đủ là vang vọng một khoảng trời đêm, đủ thấy đêm khuya tĩnh mịch đến nhường nào! Tất cả tạo cho ta cảm giác lạnh lẽo, cô đơn, tĩnh mịch giữa đêm, cũng như câu hỏi: “Đã khuya vậy rồi, sao vẫn có người còn thức mà nghe tiếng trống?” Ở câu kế, có hai hình ảnh rõ ràng: “hồng nhan” và “nước non”. Vậy người đang thức là “hồng nhan” (người phụ nữ đẹp), nhưng nàng thức để làm gì? Cũng phải kể đến cách dùng từ “cái”, như thể xem thường, xem “hồng nhan” là vật rẻ rúng, có thể chuyền tay được. Cách dùng từ “trơ” cũng rất tài tình, vì nó có thể là “trơ trọi”: người phụ nữ nhỏ bé đối lập với nước non rộng lớn giữa đêm khuya lạnh vắng, tạo sự cô đơn lạ thường. Còn nếu đó là “trơ lì” thì lại rất hợp với hai câu kế:

“Chén rượu hương đưa say lại tỉnh”

  Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”




Ngày xưa, thường chỉ có nam nhi uống rượu, có thể vì để thưởng thức với bằng hữu “rượu ngon phải có bạn hiền”, nhưng cũng có thể dùng để giải sầu. Cô đơn như thế chắc chắn là uống rượu để quên buồn, và người con gái có đủ bản lĩnh để làm điều đó hẳn chỉ có Hồ Xuân Hương. Cụm từ “say lại tỉnh” gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ: đó vừa là sự chuyển biến của thời gian (lúc say tới lúc tỉnh), vừa là sự chuyển biến về mặt nhận thức (say rồi lại tỉnh). Nhưng có thể say và tỉnh không hoàn toàn khác nhau, có thể vì say mà tỉnh, vì càng say lại càng buồn, buồn vì sự lẻ loi, cô đơn của người con gái. “Vầng trăng” là hình ảnh ẩn dụ chỉ người con gái, “bóng xế” hàm ý là lúc người con gái đã qua tuổi xuân sắc. Trăng tròn là biểu tượng của sự đoàn viên, hạnh phúc, nên “khuyết chưa tròn” chính việc không bao giờ hạnh phúc được trọn vẹn. Qua bốn câu thơ đầu, thoạt như tả cảnh, nhưng trong cảnh là sự cô đơn tột độ của người phụ nữ đẹp, vì xưa nay “hồng nhan” thường “bạc phận”, nên nỗi lòng không biết chia sẻ cùng ai, đành mượn rượu để quên đi nỗi lòng. Uống say rồi lại tỉnh, như vậy đến hết đêm, nhưng khi say lại là lúc con người ta tỉnh nhất, nhận thấy rõ sợ cô đơn lẻ loi của chính bản thân, lại càng thêm buồn đau. Một người con gái vừa xinh đẹp vừa  tài giỏi, lại phải chịu cảnh đơn độc, không hạnh phúc trong tình yêu, quả là bất công của xã hội. Nỗi buồn ấy như tạc vào bài thơ, khiến cho ta mỗi khi đọc lại cảm nhận được nỗi buồn, như chính ta là người trong cuộc. Đó là số phận của rất nhiều người phụ nữ xưa, thế nhưng số người dám vượt lên số phận là rất ít, như bà Tú vợ Trần Tế Xương cũng “Một duyên hai nợ âu đành phận”, hay như Kiều của Nguyễn Du cũng chỉ đành tự thả mình theo dòng số phận, riêng chỉ có Hồ Xuân Hương là một trong số ít dám bày tỏ khát vọng:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,

  Đâm toạc chân mây đá mấy hòn.”

Bằng biện pháp đảo ngữ và ẩn dụ, nói quá thường thấy trong văn học xưa, thông qua sợ trở mình của loài rêu, đá không chịu khuất phục, Xuân Hương nữ sĩ đã thể hiện rõ khát vọng tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân, vượt qua số mệnh và định kiến xã hội, để được như rêu, đá kia, sẽ có một ngày được trỗi dậy, “xiên ngang”, “đâm toạc”, vẫy vùng cùng với thiên nhiên, đất trời, sánh ngang với “đất” và “mây”, không còn bị khuất phục.

Hai câu cuối không kém phần ám ảnh:

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

  Mảnh tình san sẻ tí con con.”




Có lẽ là hai câu giàu cảm xúc nhất. “Xuân đi xuân lại lại” vừa chỉ sự tuần hoàn của tự nhiên, vừa thể hiện sự ngán ngẩm, tiếc rẻ. Từ “xuân” thứ nhất không chỉ là “xuân” của thiên nhiên, mà còn là “xuân” của con người, và đời người chỉ có một mùa xuân, mỗi mùa xuân đi là mỗi mùa xuân con người héo mòn dần không cách nào lấy lại, để trong lòng người bao nuối tiếc. Với việc dùng từ “xuân” và “lại” đến hai lần, mỗi lần mang một nghĩa khác nhau, tác giả đã thể hiện suy nghĩ của mình: Thời gian mãi trôi có chờ một ai, mà sao hạnh phúc chẳng bao giờ trọn vẹn, đông đầy. Những từ “mảnh”, “san sẻ”, “tí”, “con con” chỉ sự tăng tiến, nhưng lại theo chiều giảm dần, nhưng muốn bóp nghẹt, xé tan chút hạnh phúc mong manh của tình yêu còn sót lại của người con gái tội nghiệp, tạo sự tuyệt vọng khôn cùng cùng nỗi đau xót khó tả, khắc vào tim người đọc những xúc khó nhạt phai.

Để thể hiện thành công dòng cảm xúc trong tác phẩm, không thể không kể đến những biện pháp nghệ thuật như đảo ngữ, phép, phép đối, ẩn dụ, cũng như biết sử dụng những từ mang mức độ giảm dần, nhưng trên hết vẫn là dòng cảm xúc chân thật, tha thiết của tác giả Hồ Xuân Hương. Tất cả đã tạo nên một tác phẩm giàu cảm xúc và đi vào lòng người.




Đọc xong bài thơ “Tự tình” của Hồ Xuân Hương, ta càng hiểu thêm cho sự đau khổ, bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, nhất là càng chua xót cho những phận hồng nhan nhưng bạc mệnh. Từ đó, ta càng trân trọng hơn những người phụ nữ xung quanh ta, người mẹ, người cô, người vợ đã vất vả vì ta, và luôn là điểm tựa vững chắc cho ta cả những lúc thành công lẫn thất bại. Bài thơ còn lại bài học dạy ta cách đứng lên trước nghịch cảnh, đấu tranh với số phận, với bất công để giành lấy hạnh phúc cho bản thân. Đây là một tác phẩm thật sự rất ý nghĩa, và tôi sẽ xem nó như một bài học cuộc sống cho chính bản thân mình.

Phạm Thanh Phong


<<<  Các  bài viết liên quan  >>>

Người đọc
251
Nguồn
Ban Giám Hiệu
Chia sẻ
Tìm kiếm
Nhiều người đọc
BẢN QUYỀN TRANG WEB
Bản quyền thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương, Trưởng Ban biên tập: Trần Hiếu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT. 
Ðịa chỉ: Tầng 10, Tháp A, Trung tâm Hành chính Tỉnh, P.Hoà Phú, TP Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương 
Tel: (0650) 3.822.375 - Fax: (0650) 3.838.77, E-mail: portal@sgdbinhduong.edu.vn

Website: http://sgdbinhduong.edu.vn - http://sgd.binhduong.gov.vn


Mọi ý kiến đóng góp về trang website của trường cũng như gửi bài viết,

Xin gửi về Ban quản trị website trường THPT Huỳnh Văn Nghệ, thầy Nguyễn Văn Lượm,

Email: anhluomne@gmail.com, Xin chân thành cảm ơn!.