Từ vựng tiếng Anh về màu sắc
Ký ức về ngôi trường thân yêu

Bài viết của Anh Huỳnh Văn Nhị - Trưởng Ban liên lạc cựu học sinh trường. 

Thời gian thấm thoát như thoi đưa, mới đó mà đã gần nửa thế kỷ, kể từ ngày đầu tiên tôi đặt chân đến ngôi trường thân yêu, ngôi trường mang tên trung học Tân Uyên. Trường được thành lập khá sớm trên vùng đất chiến khu Đ, nơi đây thời kỳ chín năm đã cùng với cả nước kháng chiến chống Pháp. Cuộc chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, kết thúc bằng chiến dịch Điện Biên Phủ vang dội toàn cầu gắn với người anh hùng thầy giáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được cả thế giới vinh danh.

Cô Võ Thị Trị (chủ nhiệm lớp) đứng thứ 1 hàng thứ hai từ trái qua; 

Huỳnh Văn Nhị đứng thứ 6 hàng 2 từ phải qua; 

thầy Trịnh Văn Tây (Hiệu trưởng) đứng thứ 8 hàng thứ 2 từ phải qua.


Trường thành lập và được mang tên người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn, ban đầu trường chỉ có 1 lớp học và 2 thầy dạy cho các môn của khối tự nhiên và khối xã hội. Thầy Trần Văn Khánh là cán bộ cách mạng hoạt động hợp pháp. Thầy dạy các môn xã hội như văn, sử, địa… và thầy dạy cả lòng yêu nước, tinh thần cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc. Các anh chị thế hệ đầu đàn của trường được thầy Khánh hết lòng quan tâm dạy dỗ truyền bầu nhiệt huyết, hầu hết đều trưởng thành. Nhiều anh chị thoát ly vào chiến khu hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Trong số các anh chị đó, một số đã trở thành anh hùng liệt sĩ và các anh còn lại đã góp công sức của mình vào sự nghiệp xây dựng quê hương như: anh Phan Hồng Đoàn - nguyên Bí thư huyện Tân Uyên, nguyên Phó Chủ tịch tỉnh Bình Dương, anh Nguyễn Ngọc Ẩn - nguyên Chủ tịch huyện Tân Uyên - nguyên phó Chủ tịch Mặt trận tỉnh Bình Dương, luật sư Lê Văn Được, tiến sĩ - nhà giáo nhân dân Đỗ Hữu Tài - Hiệu trưởng trường Đại học Lạc Hồng… Sau ngày đất nước thống nhất, thầy Trần Văn Khánh với quân hàm Đại tá công an và với nhiều cương vị khác nhau cho đến khi thầy nghỉ hưu tại thành phố mang tên Bác.

Sau Hiệp định Geneve, Pháp thua trận rút quân về nước, Mỹ thay thế và dựng nên chính quyền Ngô Đình Diệm, trường cũng được đổi tên thành Trường trung học Phước Thành thuộc tỉnh Phước Thành. Tuy nhiên trong thời gian ngắn, tỉnh Phước Thành bị quân giải phóng xóa sổ, trường lại đổi tên thành Trường trung học Tân Uyên.

Từ lúc tôi đặt chân đến buổi học đầu tiên của lớp đệ thất (nay là lớp 6) đến khi ra trường, ngôi trường vẫn mang tên Trung học Tân Uyên. Khi đó tôi còn nhớ rất rõ trường chỉ có phía bên cánh đồng ruộng, trong sân trường có cây phượng vĩ, phía trước là đường liên tỉnh lộ 16 nay là đường ĐT 747, sau lưng và bên phải là đồng ruộng, đến mùa lúa chín là cả cánh đồng màu vàng khi có ngọn gió đi qua nhìn như những con sóng vàng rực rất đẹp, bên trái là đám rừng có những lùm cây xanh tươi và có cả những cây rừng với trái chín nhiều màu sắc vàng, tím, đỏ như gùi, trâm, cò ke… Sau ba năm, khi tôi đang học lớp đệ ngũ thì các anh chị lớp đệ tam (ngày nay là lớp 10) được học ở khu mở rộng bên kia đường, nơi đó chính là trường Huỳnh Văn Nghệ ngày nay.

Qua bảy năm học và kể từ khi rời trường đến nay, mặc dù thời gian qua đi cũng khá lâu nhưng những kí ức về ngôi trường thân yêu, về thầy cô, bạn bè và cả tình yêu tuổi học trò đã để lại trong tôi biết bao kỷ niệm đẹp, sâu lắng.

Trường học ở một huyện lẻ lại trong vùng chiến tranh ác liệt, hầu hết các thầy cô giáo đều từ các thành phố lớn về dạy như Sài Gòn, Biên Hòa, nhưng với tâm huyết, tinh thần trách nhiệm và tình thương yêu học trò, thầy cô đã dành nhiều thời gian, công sức để dạy dỗ học sinh và xây dựng nhà trường. Trường đã trải qua nhiều đời Hiệu trưởng kể từ khi thành lập, nhưng qua bảy năm tôi được học tại trường, hai đời thầy Hiệu trưởng và thầy chủ nhiệm đã để lại nơi tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp. Vào học năm đầu lớp đệ nhất, hiệu trưởng là thầy Huỳnh Kim Thiên. Tuy bận với công việc hiệu trưởng nhưng do trường thiếu giáo viên, nên ngoài công việc quản lí, thầy dạy cả toán và giáo dục công dân. Thầy rất quan tâm đến việc xây dựng nhà trường và  thương yêu học trò. Tính thầy hơi nóng, mỗi khi bạn nào không thuộc bài, không giải toán được, thầy thường hay quát to nên bọn học sinh chúng tôi ngoài sự kính trọng, chúng tôi còn rất sợ thầy. Thầy Huỳnh Kim Thiên làm hiệu trưởng được mấy năm thì được Bộ điều động bổ nhiệm về làm Thanh tra Bộ Giáo dục.

Năm tôi học đệ tam (lớp 10 ngày nay), thầy Trịnh Văn Tây thay thầy Huỳnh Kim Thiên làm hiệu trưởng. Thầy Tây nước da hơi ngăm, người mập phong độ, rất vui vẻ, giỏi ngoại giao tâm lý. Trước khi làm hiệu trưởng, thầy dạy Anh văn và khi đảm nhiệm hiệu trưởng thầy vẫn tiếp tục dạy Anh văn cho các lớp thuộc đệ nhị cấp. Tuy thời gian làm hiệu trưởng không lâu nhưng thầy Tây rất quan tâm giúp đỡ học sinh và xây dựng phát triển nhà trường.

Năm lớp 12 là năm cuối của bậc trung học, tôi được làm lớp trưởng. Thầy chủ nhiệm lớp tôi là thầy Võ Văn Thạch. Thầy Thạch có nước da trắng, người nho nhã, dáng thư sinh và rất hiền hòa. Thầy phụ trách giám học của nhà trường, dạy môn Vật lí và chủ nhiệm lớp tôi, lớp mà nhà trường rất quan tâm vì cuối năm học chúng tôi phải thi tú tài quyết định cho cả sự nghiệp 12 năm ngồi trên ghế nhà trường và những học sinh chúng tôi nếu rớt thì phải đi lính. Là giáo viên giỏi nên thầy được mời dạy ở các trung tâm luyện thi của tỉnh và biết học sinh chúng tôi đa số nghèo nên thầy phát tài liệu, bài tập cho chúng tôi không bao giờ thu tiền cả. Sau khi nghỉ Tết vô, thầy và trò chúng tôi tập trung cho kì thi tú tài, một kì thi quan trọng sắp tới. Chỉ còn vài tháng nữa đến kỳ thi, một bạn nữ tên T.T.L xin nghỉ học, là lớp trưởng nên tôi được thầy gọi lên giao tìm hiểu lí do và động viên bạn tiếp tục học vì sắp tới kì thi rồi. Vâng lời thầy, tôi gặp bạn L tìm hiểu và động viên nhưng bạn chỉ muốn gặp thầy Thạch để báo cáo lý do và xin phép, bạn L được thầy chấp thuận.

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, tôi mới biết bạn L nghỉ học vì phải vào chiến khu Ba của L đang chỉ đạo chiến dịch nên cần người. Bạn L nói với thầy Thạch, thầy căn dặn bạn L không được cho ai biết ngoài thầy vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng và gia đình của bạn. Sau năm 1975 thầy Thạch vẫn tiếp tục trồng người. Thầy được chuyển về làm hiệu phó trường trung học Hiệp Hòa vừa gần nhà cũng là quê hương thầy.

Cùng lớp tôi có một bạn nam, tên D. Lúc nhỏ bị bại liệt di chứng để lại nên lớn lên bạn D bị yếu liệt cả hai chân, vì đi lại khó khăn nên D được người anh đỡ, dắt đi học. Năm sau chú lên đệ lục (lớp 7 ngày nay) do không cùng buổi học với người anh nên tôi tình nguyện mỗi ngày đỡ, dắt D lên xuống đò ngang, chở D lên trường bằng xe đạp. Đây là công việc hơi vất vả nhưng vui, có chút tự hào vì đã có nghĩa cử giúp đỡ bạn.

Qua bốn năm học, đôi bạn chúng tôi hàng ngày bên nhau đã để lại nhiều kỷ niệm sâu đậm của tuổi học trò. Do hoàn cảnh gia đình, D cùng gia đình chuyển về Sài Gòn và khi lên thành phố học chúng tôi có dịp ôn lại những ngày cùng học dưới mái trường thân yêu.

Tình yêu tuổi học trò thật đẹp, nhiều mơ mộng. Năm tôi học lớp 11 thì S học lớp 9. S có làn da trắng, người mảnh mai, giọng nói nhẹ nhàng. Ngoài vẻ đẹp thùy mị ra, S còn có dáng quý phái và được nhiều bạn nam để ý, trong số đó có tôi. Tôi với S cùng quê. Quê chúng tôi là cù lao bao quanh bởi con sông Đồng Nai hiền hòa và thơ mộng. Mỗi khi đến trường, chúng tôi đều đi chung con đò ngang. Cũng từ dạo đó, hai đứa có những cánh thư cho nhau, cùng động viên nhau cố gắng học thật giỏi để mai sau có thể giúp ích cho đời. Đó là mối tình đầu, một mối tình đôi lứa tuổi học trò thật đẹp và lý tưởng.

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi tham gia công tác hành chính và hoạt động phong trào thanh niên ở xã, còn S ban ngày ngoài việc phụ giúp gia đình, hoạt động chi hội thanh niên, ban đêm tham gia dạy các lớp bình dân học vụ xóa mù chữ. Hưởng ứng lời kêu gọi thanh niên nhập ngũ bảo vệ tổ quốc, tôi đã xung phong tình nguyện thoát ly gia đình để đi vào quân ngũ. S đã chấp thuận kết hôn và chăm sóc mẹ già thay tôi để tôi yên tâm lên đường nhập ngũ. Dù ở môi trường quân đội hay môi trường đại học, dù phải xa nhà, xa người vợ trẻ, bé bỏng yêu quý, nhưng tôi vẫn yên tâm vì đức tính chịu thương, chịu khó và lòng hiếu thảo của nàng.

Trở thành người thầy thuốc, được về quê hương phục vụ nhân dân, cứu chữa nhiều người bệnh thập tử nhất sinh, nhưng thật oái ăm thay, người vợ yêu quý của mình bị mắc bệnh hiếm, bệnh nan y, mặc dù khoa học ngày nay tiến bộ, được chữa bệnh trong và ngoài nước nhưng cũng không qua khỏi…

Đã hơn 40 năm trôi qua, nhưng ký ức về ngôi trường thân yêu, về thầy cô, bạn bè, trong đó có mối tình đầu trở thành tình yêu trong sáng lãng mạn và thật đẹp biết bao. Tôi ước mong Trường trung học Tân Uyên ngày xưa, nay là trường Huỳnh Văn Nghệ, trường mang tên Thi tướng, người con ưu tú của quê hương Tân Uyên, ngày càng phát triển. Chúc các thầy cô, các anh chị cựu học sinh cùng các bạn học sinh nhiều sức khỏe và thành công trong cuộc sống.

                                                          Bình Dương, tháng 12 năm 2014

          Huỳnh Văn Nhị

Người đọc
296
Nguồn
Ban Giám Hiệu
Chia sẻ
Tìm kiếm
Nhiều người đọc
BẢN QUYỀN TRANG WEB
Bản quyền thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương, Trưởng Ban biên tập: Trần Hiếu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT. 
Ðịa chỉ: Tầng 10, Tháp A, Trung tâm Hành chính Tỉnh, P.Hoà Phú, TP Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương 
Tel: (0650) 3.822.375 - Fax: (0650) 3.838.77, E-mail: portal@sgdbinhduong.edu.vn

Website: http://sgdbinhduong.edu.vn - http://sgd.binhduong.gov.vn


Mọi ý kiến đóng góp về trang website của trường cũng như gửi bài viết,

Xin gửi về Ban quản trị website trường THPT Huỳnh Văn Nghệ, thầy Nguyễn Văn Lượm,

Email: anhluomne@gmail.com, Xin chân thành cảm ơn!.