5 ĐỀ MÔN NGỮ VĂN THEO ĐỀ MINH HỌA CỦA BỘ NĂM 2019

ĐỀ THAM KHẢO 1

(Đề thi có 02 trang)

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Đọcvăn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Chia sẻ trong FPT EduCamp 2016 - sự kiện thường kỳ khối giáo dục FPT mới đây, tiến sĩ Nguyễn ThànhNam - nhà sáng lập Đại học trực tuyến FUNiX cho rằng, câu hỏigây bão: “Học như thế nào để ra trường tìm công việc tốt với mứclương khởi điểm 2.000 USD?” của một nữ sinh viên đáng được tôntrọng. Tuy nhiên, ông nhận thấy sinh viên đang có nhầm lẫn lớn về kháiniệm học. “Không phải cứ học nhiều là được trả lương nhiều hơn, đó là quan niệmrất sai lầm. Thực tế, khi đi học, bạn chỉ tốn tiền và chắc chắn lương khôngcao nếu cứ giữ cách học và tư duy cũ”, ông Nam chia sẻ. Theo ông Nam, vấn đềkhông phải là học gì để nhận được lương 2.000 USD mà sinh viên cần phải trảlời câu hỏi mình sẽ làm gì để nhận mức lương này. Hiện ở Việt Nam cókhông ít đầu việc với mức lương khởi điểm từ 2.000 USD trở lên, đặcbiệt trong lĩnh vực công nghệ, nhưng để ứng tuyển thành công cần phảithuyết phục nhà tuyển dụng mình có những kỹ năng cần thiết và xứngđáng với mức lương đó. Chia sẻ sâu hơn câu chuyện về giáo dục, ông chorằng đang có nhiều bất cập của ngành này. “Trường học với cơ chế cũ khiếnvai trò của sinh viên không ở vị trí trung tâm. Các em thiếu tự chủ, kỹ năngcông việc, ra trường, doanh nghiệp phải đào tạo lại, tạo ra vòng luẩn quẩntrong tuyển chọn nhân sự tốt”, cựu CEO FPT phân tích.

(Mai Phương, tríchtừ http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/cong-dan-so)

Câu 1. Theo ông Nguyễn Thành Nam, thế nào là một nhân sự đáp ứng đượcyêu cầu của doanh nghiệp?

Câu 2. Vì sao cho rằng ông Nguyễn Thành Nam có cách đánh giá bất ngờvới câu hỏi “Học như thế nào để ratrường tìm công việc tốt với mức lương khởi điểm 2.000 USD?” của mộtnữ sinh viên?

Câu 3. Nêu nội dung của văn bản.

Câu 4. Anh/ chị có đồng ý với quan điểm: “vấn đề không phải là học gì để nhận được lương 2.000 USD mà sinh viêncần phải trả lời câu hỏi mình sẽ làm gì để nhận mức lương này” haykhông? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1: (2điểm)

Từ văn bản trên,hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về một số tác hại củasuy nghĩ “học nhiều là được trả lương nhiềuhơn”.

Câu 2: (5điểm)

Mình về mình có nhớ ta

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

(Việt Bắc, Tố Hữu)

Phân tích đoạnthơ trên, từ đó làm rõ kết cấu độc đáo của đoạn trích.

ĐỀ THI THAM KHẢO 1

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM

 

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

 

I

ĐỌC HIỂU

3.0

 

1

Theo ông Nguyễn Thành Nam, một nhân sự đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp là: có sự tự chủ, trau dồi kỹ năng công việc khá tốt khi ra trường, không khiến doanh nghiệp mất thời gian đào tạo lại.

0.5

 

2

Nói ông Nguyễn Thành Nam có cách đánh giá bất ngờ với câu hỏi “Học như thế nào để ra trường tìm công việc tốt với mức lương khởi điểm 2.000 USD?” của một nữ sinh viên vì trong khi mọi người phản ứng dữ dội, chỉ trích gay gắt thì ông lại cho rằng đây là câu hỏi đáng tôn trọng.

0.5

 

3

Nội dung của văn bản:

-          Tác giả đã thuật lại sự kiện ở FPT Edu Camp 2016 (sự kiện thường kỳ khối giáo dục FPT), trong đó đặc biệt chú ý đến quan điểm của ông Nguyễn Thành Nam (nhà sáng lập Đại học trực tuyến FUNiX), đối với câu hỏi “gây bão” của một nữ sinh viên: “Học như thế nào để ra trường tìm công việc tốt với mức lương khởi điểm 2.000 USD?”.

-          Trong sự kiện trên, ông Nam đã đưa ra những quan điểm độc đáo, đáng suy nghĩ liên quan đến những vấn đề thiết thân đối với giới trẻ: mục đích của việc học, khả năng đáp ứng yêu cầu công việc trong tương lại.

1.0

 

4

·        Ý kiến trên hoàn toàn chính xác.

·        Nguyên nhân:

-          Mức lương cao không chỉ có đòi hỏi yêu cầu học vấn cao.

-          Ứng viên trước khi đề xuất mức lương phải cân nhắc rất nhiều khả năng của bản thân.

-          Tiêu chuẩn của một công việc tốt không gói gọn trong mức lương cao.

1.0

 

II

LÀM VĂN

7.0

 

1

Có thể nêu một số nội dung sau:

-          Xem thường việc tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng cần có trong công việc.

-          Tuyệt đối hóa vai trò cùa kiến thức được truyền thụ trong nhà trường.

-          Ngụy biện cho thói quen ỷ lại, ăn bám, lười biếng lao động.

 (Lưu ý: học sinh viết thành đoạn văn)

2.0

 

2

Phân tích đoạn thơ trong bài Việt Bắc của Tố Hữu, từ đó làm rõ kết cấu độc đáo của đoạn trích.

5.0

 

a.      Vài nét về tác giả, tác phẩm

-          Tố Hữu (1920 – 2002) được đánh giá là lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng Việt Nam hiện đại. Thơ của Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị, mang đậm tính dân tộc, chất truyền thống.

-          Hoàn thành vào tháng 10/1954, bài thơ đã được lấy làm tên chung cho cả tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954). Tác phẩm là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một sáng tác xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Đoạn trích được học là đoạn mở đầu phần một của thi phẩm này.

0.5

 

b.      Bàn luận vấn đề

Lí giải yêu cầu: Kết cấu được hiểu là cách tổ chức, sắp xếp những nội dung trong tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật mang giá trị thẩm mĩ cao. Với hai đoạn thơ này nói riêng và cả bài thơ nói chung, Tố Hữu đã khéo léo vận dụng kết cấu thường gặp trong những câu hát giao duyên khiến nội dung chuyển tải vừa mang không khí thời đại vừa gần gũi, thân quen.

Phân tích:

·        Lời người ở lại: Lời hỏi gợi nhắc một khoảng thời gian dài cụ thể, khái quát lại một giai đoạn lịch sử gian khổ gắn với Việt Bắc, đồng thời khắc sâu tình cảm “thiết tha mặn nồng” trải dài theo năm tháng.  Các hình ảnh sóng đôi từng cặp, kết cấu lặp – trùng điệp gợi lên một tình cảm gắn bó giao hòa. Các từ “thiết tha”, “mặn nồng” thể hiện bao ân tình gắn bó. Câu hỏi nêu lên thật ra cũng là lời nhắn nhủ người ra đi hãy mãi nhớ, đừng bao giờ quên Việt Bắc. Bốn câu đầu hiện lên chính là những lời ướm hỏi rất ngọt ngào khéo léo và dạt dào tình cảm của người ở lại làm cho cảnh chia tay thêm da diết luyến lưu.

·        Lời người ra đi: Tuy không trực tiếp trả lời câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng “bâng khuâng”, “bồn chồn” cùng cử chỉ “cầm tay nhau” xúc động, bồi hồi đã nói lên tình cảm thắm thiết của người ra đi với cảnh và người Việt Bắc. Người cán bộ kháng chiến ra đi nhớ cảnh Việt Bắc, nhớ “áo chàm”, nhớ tiếng, nhớ người, nhớ tình cảm của người Việt Bắc dành cho kháng chiến. Hình ảnh “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” thật cảm động. Câu thơ bỏ lửng, ngập ngừng đã diễn tả rất đạt thái độ xúc động, nghẹn ngào khi phải giã từ Việt Bắc về xuôi. 

3.0

 

c.       Đánh giá: Đoạn thơ thể hiện được tình cảm thủy chung son sắt giữa người ra đi và người ở lại. Những tình cảm trong sáng đó rất tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước anh hùng của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những câu thơ lục bát trau mở ra thế giới cảm xúc phong phú của chủ thể trữ tình. Giọng thơ, ngôn ngữ, nhịp điệu cùng bộc lộ cảm xúc nhớ thương day dứt khiến đoạn thơ giống như một lời hát giao duyên rất đằm thắm, thiết tha.

0.5

 

d.      Làm rõ vấn đề

-          Đoạn trích kết cấu theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca. Nhưng ở đây không chỉ là lời hỏi, lời đáp mà còn là sự hô ứng, mở rộng thêm những ý tình trong lời hỏi, có khi trở thành lời đồng vọng.

-          Thực ra, bên ngoài là đối đáp, còn bên trong là độc thoại, là sự biểu hiện tâm tư, tình cảm của chính nhà thơ, của những người tham gia kháng chiến đang đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào hạnh phúc về quá khứ đẹp đẽ với nghĩa tình cách mạng thắm thiết. Kẻ ở - người đi, lời hỏi – lời đáp ở đây có thể xem là một cách “phân thân” để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.

1.0

 

TỔNG ĐIỂM

10.0

ĐỀ THAM KHẢO 2

(Đề thi có 02 trang)

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề

 

I. ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Đọcvăn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

“Chúng tôi là những người đàn bà bình thường trên TráiĐất. 
Quen với việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày 
Chúng tôi chẳng có tàu ngầm, tên lửa, máy bay 
Càng không có hạt nhân nguyên tử 
Chúng tôi chỉ có chậu có nồi có lửa 
Có tình yêu và có lời ru 
Những con cò con vạc từ xưa 
Vẫn lặn lội bờ sông bắt tép 
Cuộc sống vẫn ngàn đời nối tiếp 
Như trăng lên, như hoa nở mỗi ngày... 

Nếu ví dụ không có chúng tôi đây 
Liệu cuộc sống có còn là cuộc sống 
Ai sẽ mang lại cho các anh vui buồn hạnh phúc 
Mở lòng đón các anh sau thất bại nhọc nhằn 

Buổi sớm mai ướm bước chân mình lên vết chân trên cát 
Bà mẹ đã cho ra đời những Phù Đổng Thiên Vương 
Dẫu là nguyên thủ quốc gia hay là những anh hùng 
Là bác học... hay là ai đi nữa 
Vẫn là con của một người phụ nữ 
Một người đàn bà bình thường, không ai biết tuổi tên.” 

(Thơ vui về phái yếu, Xuân Quỳnh)

Câu1. Xác định thể thơ củavăn bản.          

Câu2. Vì sao tác giả bài viếtlại cho rằng những người phụ nữ trên thế giới là “bình thường”?

Câu3. Xác định tình cảm, thái độ của tác giả thể hiện trong văn bản.

Câu4. Anh (chị) có đồng ý với quan điểm “Nếu ví dụ không có chúng tôi (người phụ nữ) đây/ Liệu cuộc sống có còn là cuộc sống” hay không? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1: (2điểm)

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến củaanh (chị) về những việc cần làm để thể hiện sự tôn trọng, tình yêu thương dànhcho người phụ nữ của gia đình.

Câu 2: (5điểm)

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa 

          … 

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.”

(Tây Tiến, Quang Dũng)

Phân tích đoạnthơ trên, từ đó làm rõ sáng tạo độc đáo của tác giả về mặthình ảnh, ngôn ngữ và giọng điệu thể hiện qua đoạn trích trên.

ĐỀ THI THAM KHẢO 2

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

3.0

1

Thể thơ của văn bản: thể thơ tự do.

0.5

2

Tác giả cho rằng những người phụ nữ trên thế giới là “bình thường” vì:

-          Chỉ gắn với những việc gần gũi, quen thuộc (việc nội trợ, chăm sóc gia đình).

-          Cống hiến và hi sinh một cách thầm lặng.

0.5

3

Nội dung của văn bản trên:

-          Qua văn bản, tác giả đã ngợi ca những điều mà người phụ nữ đã làm được (sinh thành nên mỗi chúng ta, chăm sóc về mọi mặt; chia sẻ, an ủi mọi lúc trong cuộc sống).

-          Từ đó, tác giả khẳng định giá trị của người phụ nữ: dẫu họ rất bình thường với những việc làm giản dị, thầm lặng nhưng họ đã khiến cuộc sống của mỗi người đầy đủ hơn, đem lại cho thế giới này bao điều nhẹ nhàng mà ý nghĩa.

1.0

4

·        Ý kiến trên hoàn toàn chính xác.

·        Nguyên nhân:

-          Phụ nữ là một nửa của thế giới.

-          Phụ nữ gánh vác vai trò to lớn việc duy trì nòi giống.

-          Những việc làm tưởng chừng đơn giản của phụ nữ đã mang đến cho cuộc sống bao điều ý nghĩa, thiêng liêng.

1.0

II

LÀM VĂN

7.0

1

Có thể nêu một số nội dung sau:

-          Chia sẻ, hỗ trợ công việc gia đình.

-          Thường xuyên hỏi han, chú ý đến những thay đổi về sức khỏe, tâm trạng.

-          Chú ý đến một số dịp quan trọng như sinh nhật, ngày Quốc tế Phụ nữ 8.3….

 (Lưu ý: học sinh viết thành đoạn văn)

2.0

2

Phân tích đoạn thơ trong bài Tây Tiến của Quang Dũng, từ đó làm rõ sáng tạo độc đáo của tác giả về mặt hình ảnh, ngôn ngữ và giọng điệu.

5.0

a.      Vài nét về tác giả, tác phẩm

-         Quang Dũng (1921 – 1988) là một người tài hoa. Thơ ông vừa hồn nhiên, vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn.

-         Rời xa đơn vị cũ cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), Quang Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến nên viết lên bài thơ này. Bài thơ lúc đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô (1986).

0.5

b.      Bàn luận vấn đề

Lí giải yêu cầu: Thơ ghi dấu ấn bằng hình ảnh, ngôn từ và giọng điệu. Đó là những yếu tố cộng hưởng với nhau để làm nên giá trị của một thi phẩm. Với đôi mắt họa sĩ, đôi tai nhạc sĩ và tâm hồn thi nhân, Quang Dũng đã tạo nên một đoạn thơ rất đặc sắc, đầy thu hút, với đôi cánh nhạc – họa nâng thi ca bay cao.

Phân tích

·        Kỉ niệm đêm hội núi rừng: Sau những chặng đường hành quân vất vả, những người lính Tây Tiến như bừng lên một sức sống mới trong đêm hội của núi rừng, làng bản. Đêm hội ấy được khắc họa với những nét tiêu biểu: ánh đuốc sáng rực rỡ, âm thanh rộn ràng trong nhạc khèn lên man điệu cùng vũ điệu nhịp nhàng e ấp bao điều chưa ngỏ. Biên giới xa xôi được nối lại gần trong tình cảm cảm quân dân thắm thiết và bao cảm xúc tưng bừng của tuổi trẻ.

·        Vẻ đẹp thơ mộng của một vùng sông nước: Cây lau, sông nước, chiều sương, thuyền độc mộc xuôi dòng theo cánh hoa trôi man mác; bấy nhiêu sự vật là bấy nhiêu nỗi niềm lưu luyến bâng khuâng. Bức tranh sông nước nên thơ, trữ tình được khắc họa theo lối gợi nhiều hơn tả đã hòa lẫn cùng tình cảm người đang xa cách càng trở nên ấn tượng và gợi cảm.

3.0

c.       Đánh giá

-          Cảnh vật như đang đong đầy trong những yêu thương lưu luyến, gắn bó không rời với đất, với người, giúp ta thấy rõ hơn nét đẹp tâm hồn của tác giả nói riêng và những người lính nói chung.

-          Bài thơ nói chung và đoạn thơ nói riêng được hình thành và kết tinh từ một nỗi nhớ da diết. Nỗi nhớ ấy đã đánh thức mọi ấn tượng, kí ức để kết tinh thành những hình ảnh sống động và đã đi trọn mạch hồi tưởng của nhà thơ.

0.5

d.      Làm rõ vấn đề

-          Hình ảnh khá đa dạng và được sáng tạo bằng nhiều bút pháp khác nhau, tạo nên sắc thái thẩm mĩ phong phú. Ở mỗi loại hình ảnh (thiên nhiên, con người) cũng lại có hai dạng chính, tạo nên hai sắc thái thẩm mĩ phối hợp, bổ sung cho nhau.

-          Một nét sáng tạo trong ngôn ngữ của bài thơ là có những kết hợp từ độc đáo, mới lạ, tạo nghĩa mới hoặc sắc thái mới cho từ ngữ. Sử dụng địa danh cũng là một nét đáng chú ý, vừa tạo ấn tượng về tính cụ thể, xác thực của bức tranh thiên nhiên và cuộc sống con người, lại vừa gợi được sự hấp dẫn của xứ lạ, phương xa.

-          Những kỷ niệm, những hình ảnh với nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau, được diễn tả bằng những giọng điệu phù hợp với mỗi trạng thái cảm xúc. Ở đoạn 2, khi tái hiện kỉ niệm về những đêm liên hoan thắm tình quân dân thì giọng thơ chuyển sang hồn nhiên, tươi vui; rồi lại bâng khuâng, man mác khi gợi lại một cảnh chia tay trong một chiều sương mờ bao phủ nơi Châu Mộc.

1.0

TỔNG ĐIỂM

10.0

ĐỀ THAM KHẢO 3

(Đề thi có 02 trang)

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Đọcvăn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Klanarong Srisakul là một cái tên xa lạ và khó đọc vớiai không phải là cư dân Thái. Nhưng tên của chàng thanh niên này đã được hàngtriệu người trên thế giới biết đến khi trong lễ tốt nghiệp, anh bận lễ phục củaĐại học Chukalongkorn danh tiếng nhất nước Thái, tìm người cha của mình và quỳrạp xuống để lạy ông bên chiếc xe tải chở đầy rác bẩn. Anh bày tỏ lòng biết ơnvới người cha mới chỉ học qua lớp 4 đã dành cả cuộc đời để nuôi dạy mình.[…]Lòng biết ơn của chàng trai người Thái như một món quà làm cho tôi và những aibiết đến câu chuyện này thêm những khoảnh khắc tin tưởng vào cuộc sống.

Tuy nhiên, tôi cũng suy nghĩ nhiều về thực tế trongkhi ở nhiều quốc gia trên thế giới, “cảm ơn” là khái niệm được dạy để trở thànhbản năng trong hành xử hàng ngày của mọi người, thì ở Việt Nam không dễ để nghemọi người nói lời này. Trong công sở, học đường, thậm chí trong cả bệnh viện,nơi kinh doanh khi kết thúc một công việc, nhiều khi tôi cảm thấy hẫng hụt vìthấy thiếu vắng lời cảm ơn… Ở một khía cạnh khác, lòng biết ơn nhiều khi lại trởthành công thức. Đó là khi nó được viết thành câu chữ trong các bài phát biểutheo mẫu mà dễ dàng tìm thấy trong nhiều sự kiện hàng ngày kiểu như: “Để có đượcngày hôm nay, chúng em xin tỏ lòng biết ơn cha mẹ, thầy cô, các đoàn thể đã tạođiều kiện”. Những công thức này đã làm mất đi cốt lõi quan trọng của việc bày tỏlòng biết ơn, đó là lời nói đi đôi với sự chân thành và khả năng thể hiện cảmxúc của bản thân với người khác. Khi nói lời cảm ơn, ta có thể diễn tả một mốichân tình đơn sơ rằng ta biết mình là một phần của cộng đồng của những ngườiliên kết với nhau. Và ta cảm thấy an bình, chan hòa và ấm áp vì không đơn độctrong cuộc sống. Bởi thế nên tôi luôn mong ước rằng mỗi gia đình hay các thầycô sẽ dành nhiều thời gian hơn cho việc dạy trẻ lòng biết ơn mỗi ngày. Một điềutưởng như rất cũ nhưng lại luôn cần thiết.

(Nguyễn Anh Thi, Lòng biết ơn)

Câu 1. Theo văn bản, thực trạng nói lời cảm ơn ở Việt Nam diễn ranhư thế nào?

Câu 2. Tác dụng của câuchuyện về chàng trai người Thái Klanarong Srisakul ở đầu văn bản là gì?

Câu 3. Vì sao tác giả lại cho rằng dạy trẻ lòng biết ơn mỗi ngày” “một điều tưởng như rất cũ nhưng lại luôn cần thiết”?

Câu 4. Thông điệp anh/ chị rút ra từ văn bản là gì?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1: (2điểm)

Từ văn bản trên,hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu suy nghĩ của anh (chị) về tác hại khi việcbày tỏ lòng biết ơn “trở thành công thức”.

Câu 2: (5điểm)

“Dữ dội và dịu êm 

           … 

Cả trong mơ còn thức

(Sóng, Xuân Quỳnh)

Phân tích đoạn trích trên, từ đó làm rõ kết cấu độc đáo của bài thơ.

ĐỀ THI THAM KHẢO 3

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

3.0

1

Thực trạng nói lời cảm ơn ở Việt Nam: Thiếu vắng lời cảm ơn hoặc mọi người nói lời cảm ơn một cách công thức

0.5

2

Tác dụng của câu chuyện về chàng trai người Thái:

-          Khiến mọi người tin tưởng cuộc sống này vẫn còn nhiều điều tốt đẹp.

-          Đưa ra một tấm gương nhằm minh chứng cho vai trò của lòng biết ơn cho cuộc sống.

0.5

3

Nguyên nhân:

-          Góp phần bảo vệ truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, khắc phục thực trạng đáng buồn của xã hội Việt Nam hôm nay.

-          Dạy cho các em nói lời chân thành và thể hiện cảm xúc chân thật, góp phần quan trọng trong việc định hình nhân cách về sau.

1.0

4

Thông điệp:

-          Không thể xem thường ý nghĩa của lời cảm ơn (gìn giữ và phát huy truyền thống; sự động viên tốt nhất cho việc nhân rộng điều thiện, điều tốt).

-          Bất kì cảm xúc, tình cảm nào cũng cần được bộc lộ chân thành bằng lời nói, hành động cụ thể để gắn kết người với người tốt hơn.

1.0

II

LÀM VĂN

7.0

1

Có thể nêu một số nội dung sau:

-          Làm mất ý nghĩa tốt đẹp của sự tri ân.

-          Con người dần mất niềm tin vào cuộc sống, không khuyến khích được những điều thiện, những việc tốt

-          Khiến tính hình thức, sự giả dối phát triển trong đời sống.

 (Lưu ý: học sinh viết thành đoạn văn)

2.0

2

Phân tích đoạn trích trong bài Sóng của Xuân Quỳnh,  từ đó làm rõ kết cấu độc đáo của bài thơ.

5.0

a.      Vài nét về tác giả, tác phẩm

-          Xuân Quỳnh (1942 – 1988) là một nhà thơ nữ tiêu biểu cho những nhà thơ trẻ thời chống Mỹ. Ngay từ những tác phẩm đầu tay nữ sĩ đã thể hiện một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, tươi tắn của một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều âu lo và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường.

-          Được sáng tác vào ngày 29/12/1967 tại biển Diêm Điền (Thái Bình) trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ, bài thơ này được in trong tập Hoa dọc chiến hào, xuất bản năm 1968.

0.5

b.      Bàn luận vấn đề

Lí giải yêu cầu: Kết cấu được hiểu là cách tổ chức, sắp xếp những nội dung trong tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật mang giá trị thẩm mĩ cao. Hình thành trên sự sóng đôi hòa quyện giữa “sóng” và “em”, kết cấu đặc biệt này đã giúp Xuân Quỳnh tái hiện khá tinh tế và chính xác những cung bậc của tình yêu cũng như giúp người đọc cảm nhận đầy đủ hơn về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang cháy hết mình với tình yêu ấy.

Phân tích

-         Hình tượng sóng gắn liền với khao khát ra đi tìm đến tình yêu: Trong bài thơ này, người phụ nữ đang yêu thật chủ động và quyết liệt chứ không còn lặng lẽ, cam chịu. Con sóng là hiện thân của những đối cực, đồng thời con sóng ấy cũng rất trung thực và thẳng thắn: khi không hiểu nổi mình thì dứt khoát ra đi tìm đến biển, đến những chân trời mới tự do, bao la để thể hiện tình cảm của mình.

-         Hình tượng sóng gắn liền với những băn khoăn về khởi thủy của tình yêu: Khi yêu, người ta thường nảy sinh nhu cầu muốn được hiểu biết, muốn được khám phá thế giới cảm xúc đa dạng đó. Câu hỏi dồn dập, nhưng cuối cùng vẫn để ngỏ, chỉ biết tim đang đập, đang rung những nhịp bồi hồi trong muôn nỗi khát vọng tình yêu xuyến xao trong ngực trẻ.

-         Hình tượng sóng gắn liền với nỗi nhớ nhung tha thiết: Nỗi nhớ của con sóng chính là nỗi nhớ của con người, nỗi nhớ tầng tầng lớp lớp đan xen nhau, nối tiếp nhau chiếm hữu cả thời gian, ngay cả trong giấc mơ. Nỗi trăn trở, khao khát tự khám phá trái tim người phụ nữ đã thổi hồn người vào sóng. Đến lúc tâm trạng dâng trào như những lớp sóng òa vỡ, trái tim ấy không còn kiềm giữ được nữa, phải tách ra khỏi sóng, trỗi lên cất tiếng thiết tha.

3.0

c.       Đánh giá

-          “Sóng” là hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ,  được diễn tả chân thực, rất có hồn, được khắc họa toàn vẹn qua mạch kết nối các khổ thơ, mỗi khổ là một khám phá mới về sóng.

-          Hình tượng này được tạo thành từ âm điệu thơ đặc biệt và được biến thành một trường ẩn dụ có mối quan hệ tương đồng, gắn bó chặt chẽ với hình tượng em, từ đó hình thành nên một kết cấu đặc biệt.

0.5

d.      Làm rõ vấn đề

-          Kết cấu bài thơ được hình thành bắt nguồn từ quan hệ giữa hai hình tượng “sóng” và “em”: Sóng là biểu tượng cho tâm hồn người con gái đang yêu – một kiểu của cái tôi trữ tình nhập vai. Em là cái tôi trữ tình của nhà thơ. Hai hình tượng này tuy hai mà một, có lúc phân chia, có lúc lại hòa nhập để nói lên những nét, những phương diện phong phú, phức tạp, nhiều khi mâu thuẫn nhưng thống nhất trong tâm hồn người con gái đang yêu.

-          Mối quan hệ này đã tạo nên một kết cấu song hành ấn tượng - bài thơ được cấu trúc trên cơ sở nhận thức sự tương đồng, hòa hợp giữa hai hình tượng trữ tình sóng và em. Sóng biển xôn xao triền miên vô tận gợi liên tưởng đến sóng lòng dào dạt, tràn đầy khao khát tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. Kết cấu song hành này góp phần tạo nên chiều sâu nhận thức và nét độc đáo cho bài thơ.

1.0

TỔNG ĐIỂM

10.0

ĐỀ THAM KHẢO 4

(Đề thi có 02 trang)

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Đọcvăn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Lagom không có từ đồng nghĩa trong tiếng Anh, nhưng có thể hiểu lagom là “không quá ít, chẳng quá nhiều,chỉ vừa đủ”. Rất nhiều người tin rằng từ này bắt nguồn từ thuật ngữ laget om củangười Viking – nghĩa là “chuyền quanh trong nhóm” – xuất phát từ thói quen nhữngngười Viking xưa thường chuyền một chiếc sừng đầy rượu theo vòng, mỗi người nhấpmột ngụm vừa đủ để đảm bảo vẫn còn đủ rượu cho những người sau. Dù giai thoạinày có thể lý giải nguồn gốc của từ lagom,nhưng cơ bản thì từ nguyên của nó có liên quan đến từ cô lag – hiểu nôm na là“nguyên tắc”.

Vậy nguyên tắc của lagom là gì? Hiểu một cách đơn giản, lagom mô tả trạng thái “vừa đủ”hoặc “thích hợp” – như lượng sữa vừa đủ trong một ly cà phê hay một lực mát –xakhông quá mạnh cũng không quá nhẹ. Lagomphức tạp hơn nhiều so với giới hạn của thế giới vật chất khi nó có ý đề cập đếntrạng thái hoàn hảo của việc giữ cân bằng dựa trên khuôn khổ quy tắc của xã hội.Lagom nghĩa là nhận lời đến nhà bạnchơi dịp cuối tuần nhưng tự mang theo khăn trải giường, đồng nghĩa với ý muốnchia sẻ gánh nặng giặt giũ với chủ nhà. Lagomnghĩa là bạn được quyền nghỉ ở nhà để chăm sóc con ốm và vẫn được lãnh lương –nhưng không bao giờ lạm dụng đặc quyền này. Lagom nghĩa là mua một chiếc xe hữu dụng – dù chiếc xe đó không cóthiết kế bắt mắt; là chỉ sơn một bức tường trong phòng khách và còn lại để trắng;là tô son đỏ tươi và phần trang điểm còn lại vừa phải một cách hoàn hảo. Lagom còn là ăn một cái burger mà khôngchọn thêm khoai tây chiên, là nấu món mới cho buổi tối mà không dùng gì khácngoài đồ còn thừa từ bữa trưa.

(Vừa đủ - Đẳng cấp sống của người Thụy Điển,

Linnea Dunne, NXB Tổng hợp TP.HCM, tr. 10 – 11)

Câu 1. Theo bài viết, nguyên tắc của lagom thể hiện cụ thể trong quan hệ với người khác như thếnào?

Câu 2. Theobài viết, giá trị chủ yếu trong nguyêntắc của lagom là gì?

Câu 3. Vìsao có thể xem lagom như một nguyêntắc sống?

Câu 4. Anh/chị có đồng ý với nguyên tắc sống “khôngquá ít, chẳng quá nhiều, chỉ vừa đủ” được nhắc đến trong văn bản hay không?Vì sao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1: (2điểm)

Từ văn bản trên,hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến của anh (chị) về một số việc thanhniên cần thực hiện để sống theo nguyên tắc lagom.

Câu 2: (5điểm)

Phân tích vẻ đẹpcủa sông Hương khi chảy trôi giữa thành phố Huế trong đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của HoàngPhủ Ngọc Tường, từ đó làm rõ cái tôi độc đáo của nhà văn thể hiện qua tác phẩm.

ĐỀ THI THAM KHẢO 4

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

3.0

1

Theo bài viết, nguyên tắc của lagom thể hiện cụ thể trong quan hệ với người khác như sau: chia sẻ gánh nặng công việc/ trách nhiệm, không lạm dụng đặc quyền dù đó là quyền lợi chính đáng được hưởng.

0.5

2

Theo bài viết, giá trị chủ yếu trong nguyên tắc của lagom là: Hướng đến sự cân bằng (về trách nhiệm, về quyền lợi, về nhu cầu) trên cơ sở tôn trọng khuôn khổ quy tắc của xã hội.

0.5

3

Có thể xem lagom như một nguyên tắc sống vì:

-          Lagom hình thành dựa trên cơ sở tôn trọng khuôn khổ quy tắc của xã hội.

-          Lagom buộc con người tự qui định cho mình những phạm vi, những giới hạn trong đời sống nhằm hướng đến sự cân bằng (về trách nhiệm, về quyền lợi, về nhu cầu) tốt nhất.

1.0

4

Quan điểm trên hoàn toàn chính xác.

Nguyên nhân:

-          Bất cứ điều gì vượt quá mức yêu cầu cũng để lại những hệ quả không tốt.

-          Tiết kiệm tiền bạc vào những thứ cần thiết cho cuộc sống sau này.

-          Giúp hạn chế lòng tham/ khao khát vốn không giới hạn của con người.

1.0

II

LÀM VĂN

7.0

1

Có thể nêu một số nội dung sau:

-          Chi tiêu tiết kiệm, không mua sắm quần áo, điện thoại,…đắt tiền hoặc vượt quá khả năng tài chính của gia đình.

-          Sống có trách nhiệm với gia đình, biết chia sẻ trách nhiệm với người thân, bạn bè.

-          Cư xử đúng mực và phù hợp trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô, người thân,…

 (Lưu ý: học sinh viết thành đoạn văn)

2.0

2

Phân tích vẻ đẹp của sông Hương khi chảy trôi giữa thành phố Huế trong đoạn trích bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường, từ đó làm rõ cái tôi độc đáo của nhà văn thể hiện qua tác phẩm.

5.0

a.      Vài nét về tác giả, tác phẩm

-          Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh năm 1937 tại Huế, là một trong những nhà văn chuyên về bút kí.

-          Tác phẩm là bài bút kí được viết tại Huế, ngày 4/1/1981, in trong tập sách cùng tên. Đây là một trong những tác phẩm bút kí nổi tiếng của tác giả, gồm có 3 phần và đoạn trích trong sách giáo khoa là phần thứ nhất.

0.5

b.      Bàn luận vấn đề

Lí giải yêu cầu: Bài bút kí không chỉ mang đến cho người đọc những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương của tác giả mà còn thể hiện tình yêu tha thiết và niềm tự hào lớn lao của tác giả đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương. Tình cảm ấy càng được bộc lộ rõ nét qua cái tôi độc đáo của nhà văn – một cây bút giàu trí tuệ, tổng hợp từ một vốn hiểu biết sâu rộng về văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương.

Phân tích:

-          Như đã tìm thấy chính mình khi gặp thành phố thân yêu, sông Hương "vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long", dòng sông "kéo một nét thẳng thực yên tâm theo hướng tây nam - đông bắc", rồi "uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến cồn Hến" khiến "dòng sông mềm hẳn đi, như một tiếng "vâng" không nói ra của tình yêu".

-          Nằm ngay giữa lòng thành phố yêu quý của mình, sông Hương cũng giống sông Xen của Pa-ri, sông Đa-nuýp của Bu-đa-pét, sông Hương và những chi lưu của nó tạo những đường nét thật tinh tế làm nên vẻ đẹp cổ kính của cố đô ; đẹp như điệu slow chậm rãi, sâu lắng, trữ tình.

-          Sông Hương cũng là một người tình dịu dàng và chung thủy của Huế nên khi "Rời khỏi kinh thành, sông Hương chếch về hướng chính bắc, ôm lấy đảo cồn Hến quanh năm mơ màng trong sương khói, đang xa dần thành phố để lưu luyến ra đi giữa màu xanh biếc của tre trúc và của những vườn càu vùng ngoại ó Vĩ Dạ. Và rồi, như sực nhớ lại một điều gì chưa kịp nói, nó đột ngột đổi dòng, rẽ ngoặt sang hướng đông tây để gặp lại thành phố lần cuối ở góc thị trấn Bao Vinh xưa cổ". Cũng theo tác giả, khúc quanh thật bất ngờ đó, tựa như một "nỗi vuông vấn", và dường như còn có cả "một chút lẳng lơ kín đáo của tình yêu"...

3.0

c.       Đánh giá: Trong cách thể hiện của tác giả, sông Hương được cám nhận tinh tế với nhiều góc độ : bằng con mắt của hội họa, qua cách cảm nhận âm nhạc và với cái nhìn đắm say của một trái tim đa tình. Hai bút pháp kể và tả được kết hợp nhuần nhuyễn và tài hoa trong đoạn văn đã làm nổi bật một sông Hương đẹp bởi phối cảnh kì thú giữa nó với thiên nhiên xứ Huế phong phú mà hài hòa; được miêu tả bằng sự phối hợp nhiều biện pháp tu từ (so sánh, nhân hóa, phóng đại) và giọng văn trữ tình, giàu cảm xúc.

0.5

d.      Làm rõ vấn đề

-          Với sự uyên bác, tài hoa, nhà văn thông thuộc thủy trình của con sông, am hiểu sâu sắc về văn hóa Huế để cung cấp cho người đọc một lượng thông tin rất lớn, góp phần làm nổi rõ bản sắc của thiên nhiên cũng như con người xứ Huế.

-          Bên cạnh đó, niềm say mê tìm kiếm cái đẹp, sự hòa nhập với thiên nhiên cũng như tình yêu quê hương đất nước tha thiết, tâm tình luôn hướng về cội nguồn kết hợp cùng văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế khiến nhà văn đã viết nên những trang văn mượt mà, đẹp như một bài thơ ngợi ca bề dày lịch sử, bề dày văn hóa Huế và tâm hồn của con người ở vùng đất cố đô.

1.0

TỔNG ĐIỂM

10.0

ĐỀ THAM KHẢO 5

(Đề thi có 02 trang)

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

Thời gian làm bài:120 phút, không kể thời gian phát đề

I. ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)

Đọcvăn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

“… Trước hết, trải nghiệm của cháu trong nềngiáo dục Việt Nam cho thấy rằng tư duy phê phán trong nhà trường rất yếu vàchưa được khuyến khích đúng mực. Ở nước ngoài, giờ học lịch sử hay các môn xã hộiluôn sôi nổi hơn rất nhiều so với các giờ học này ở Việt Nam bởi thầy và tròluôn cởi mở trao đổi và tranh luận với nhau thì ở trong nước, đa số học sinh,sinh viên chủ yếu ngồi nghe giáo viên giảng một cách thụ động và chép lạinguyên văn những gì mình nghe thấy hoặc nhìn thấy trên bảng. (…) Điều này cónghĩa là dòng thông tin sẽ chỉ chảy một chiều, từ thầy đến trò mà không có sựtrao đổi thông tin lẫn nhau.

Nhưng đó không phải là cách duy nhất đểtriệt tiêu tư duy phê phán. Cách thứ hai để làm điều này đó là cho rằng sáchgiáo khoa là “kinh thánh”. Cháu chưa học ở bất kỳ nơi nào sử dụng sách giáokhoa như ở Việt Nam cả. Khi học các môn như lịch sử, địa lý, học sinh thườngxuyên phải đọc nhiều tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau để so sánh, đối chiếu vàtự phân tích, đánh giá vấn đề. Nếu chỉ đọc từ một nguồn thì hệ quả tất yếu đólà sự thiên lệch càng lớn vì khả năng áp đặt ý nghĩ của tác giả với người đọc làlớn hơn. Khi người học chấp nhận những gì được viết ra trong sách giáo khoa là“chân lý” thì đương nhiên chẳng cần đọc cái gì khác nữa, vì không phải đã là“chân lý” thì chỉ có một thôi hay sao? Mà đã là chân lý thì không những việc phảnbiện sẽ hoàn toàn vô ích mà bản thân các học sinh sẽ không cảm thấy cần phải hỏilại hay phản biện nữa.”

(trích bức thư của du họcsinh Ngô Di Lân

gửi cho Bộ trưởng Bộ Giáo dụcvà Đào tạo Việt Nam)

Câu 1. Theo tác giả bài viết,giáo dục Việt Nam cần thay đổi điều gì để không triệt tiêu tư duy phê phán củangười học?

Câu 2. Theo tác giả bài viết,đâu là cách tiếp nhận thông tin hiệu quả nhất?

Câu 3. Nêunội dung của văn bản trên.

Câu 4. Anh(chị) có đồng ý với quan điểm “tư duy phê phán trong nhà trường (Việt Nam) rất yếu và chưađược khuyến khích đúng mực” hay không? Vìsao?

II. LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1: (2điểm)

Từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn khoảng 200 từ nêu ý kiến củaanh (chị) về một số giá trị của việc rèn luyện tư duy phê phán đối với mỗi cánhân.

Câu 2: (5điểm)

Khi đối thoại vớiĐế Thích, trước khi cu Tị mất, hồnTrương Ba đã nói: Khôngthể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

Sau khicu Tị mất, hồn Trương Ba lại khẳng định: “Khôngthể sống với bất cứ giá nào được”.

Phân tích ýnghĩa hai lời thoại trên trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt (Lưu Quang Vũ); từ đó hãy làm rõ vẻ đẹpcủa nhân vật hồn Trương Ba.

ĐỀ THI THAM KHẢO 5

KỲ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA 2019

Bài thi: NGỮ VĂN

ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

ĐỌC HIỂU

3.0

1

Những điều giáo dục Việt Nam cần thay đổi:

-          Trong giờ học cần sự trao đổi lẫn nhau giữa thầy và trò, không để tình trạng dòng thông tin chỉ chảy một chiều từ thầy đến trò mà không có sự phản hồi.

-          Người học không được cho rằng những gì được viết ra trong sách giáo khoa đều là “chân lý”.

0.5

2

Cách tiếp nhận thông tin hiệu quả nhất:

-          Thường xuyên thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau.

-          Tiếp nhận thông tin cần có sự so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá.

0.5

3

Nội dung của văn bản trên:

-          Qua một số cứ liệu khá cụ thể, tác giả trình bày quan điểm tư duy phê phán trong nhà trường Việt Nam hiện nay rất yếu và chưa được khuyến khích đúng mực.

-          Từ đó, tác giả cảnh báo/ lo ngại việc người học bị triệt tiêu tư duy phê phán sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, nhất là đối với quá trình tiếp nhận thông tin và rèn luyện kĩ năng phản biện.

1.0

4

·        Ý kiến trên chưa hợp lí.

·        Nguyên nhân:

-          Cơ sở dữ liệu chưa đủ lớn khiến kết luận đưa ra còn phiến diện.

-          Nhiều trường học ở những thành phố lớn, nhất là các đơn vị giáo dục ngoài công lập nhất đã không ngừng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy vai trò chủ động, tích cực của học sinh.

-          Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay đã tự tin hơn rất nhiều so với thế hệ trước nên không dễ chấp nhận việc bị áp đặt suy nghĩ.

1.0

II

LÀM VĂN

7.0

1

Có thể nêu một số nội dung sau:

-          Giúp tiếp nhận thông tin hiệu quả hơn.

-          Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong mọi việc, nhất là trong việc học tập.

-          Tránh bị người khác áp đặt suy nghĩ, từ đó dễ bị điều khiển, lợi dụng cảm xúc.

 (Lưu ý: học sinh viết thành đoạn văn)

2.0

2

Phân tích ý nghĩa hai lời thoại trong đoạn trích vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt (Lưu Quang Vũ); từ đó làm rõ vẻ đẹp của nhân vật hồn Trương Ba.

5.0

a.      Vài nét về tác giả, tác phẩm

-          Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) được coi là một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại với hàng loạt những vở kịch gây chấn động dư luận.

-          Tác phẩm là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của ông. Vở kịch sáng tác năm 1981, đến năm 1984 mới ra mắt công chúng. Đoạn trích nằm ở cảnh VII và màn kết của tác phẩm.

0.5

b.      Bàn luận vấn đề

Lí giải yêu cầu:

-          Trong tác phẩm kịch, lời thoại đóng vai trò rất quan trọng trong việc thể hiện tính cách nhân vật, góp phần nêu bật giá trị tư tưởng của tác phẩm.

-          Hai lời thoại trên gắn với đoạn đối thoại hồn Trương Ba và với Đế Thích, bước ngoặt của đoạn này là cái chết của cu Tị. Qua sự trao đổi với các nhân vật, hồn Trương Ba đã bộc lộ nhân cách tốt đẹp của bản thân, đặc biệt là trong đoạn đối thoại ở phần cuối của vở kịch.

Phân tích:

·        Lời thoại thứ 1:

-          Khái quát về sự vô nghĩa của tình cảnh sống nhờ, “hồn này xác nọ”.

-          Thể hiện ý thức vượt thoát khỏi sự thỏa hiệp với điều tiêu cực.

-          Khẳng định khát khao mãnh liệt đối với sự thống nhất toàn vẹn nhiều mặt.

·        Lời thoại thứ 2:

-          Cuộc đấu tranh nội tâm căng thẳng trước bước ngoặt phải lựa chọn.

-          Ý thức rõ được tình cảnh éo le của tương lai, thể hiện nhận thức đúng đắn đối lập hoàn toàn với nhận thức đơn giản của Đế Thích.

-          Hành động tốt đẹp đem lại cái kết dù không có hậu nhưng đầy lạc quan.

3.0

c.       Đánh giá:

-          Ngôn ngữ nhân vật sinh động, gắn với tình cảnh, tâm trạng cụ thể; có giọng điệu biến hóa, lôi cuốn, đặc biệt có những lời thoại vừa hướng ngoại lại vừa mang tính chất hướng nội.

-          Qua những lời thoại trên, tác giả đã chuyển tải thông điệp: một trong những điều quý giá nhất của mỗi con người là được sống trọn vẹn với những gì mình có và theo đuổi, được sống trọn vẹn là mình. Sự sống chỉ thật sự có ý nghĩa khi con người được sống trong sự hài hòa tự nhiên giữa thể xác và tâm hồn.

0.5

d.      Làm rõ vấn đề: Vẻ đẹp phẩm chất của nhân vật hồn Trương Ba

-          Là người nông dân hiền lành, tử tế nhưng lâm vào cảnh trái ngang do quan thiên đình gây nên

-          Là người nhân hậu, vị tha, ngay thẳng, trong sạch, luôn dằn vặt khi bị tha hóa, có ý thức tranh đấu với những biểu hiện xấu xa, tầm thường để bảo vệ phẩm giá

-          Là người hiếu thấu ý nghĩa của sự sống đích thực

-          Dựa vào cốt truyện dân gian, kịch tác gia đã sáng tạo nên một nhân vật với hành động của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh, tính cách, thể hiện được sự phát triển tình huống kịch.

1.0

TỔNG ĐIỂM

10.0


Người đọc
795
Nguồn
Ban Giám Hiệu
Chia sẻ
5 ĐỀ THAM KHẢO 2019 - 2020 CỦA THẦY KHÔI TRƯỜNG DHSP.TPHCM.docx